![]() |
|
|
“TRÚNG CHÚA” THEO QUAN ĐIỂM CỦA GREGORY OF NYSSE
Giuse Nguyễn Văn Hiển op Gregorio thành Nysse được lịch sử linh đạo Kitô giáo nh́n nhận là một nhà tâm linh thần bí tiêu biểu nhất trong số ba nhà thần bí tâm linh Đông phương miền Cappadocia [1].
Cùng với Basilio Cả và Gregorio Nazianzô, Gregorio Nysse là một trong ba giáo phụ nỗi lạc thuộc trường phái Cappadocia ở Đông Phương. Cả ba vị đều có những đóng góp đặc biệt quan trọng trong việc định tín về thần tính của Chúa Con, của Chúa Thánh Thần tại công đồng Nice (325). Thuộc nhóm những nhà thần học sau cùng của thế kỷ thứ tư trong trường phái Cappadocia, Gregorio of Nysse sinh tại Caesarea thuộc Cappadocia trong một gia đ́nh đạo hạnh và có đông con[2], khoảng năm 344 hoặc 335. Người ta không biết Gregory đă theo học tại những trung tâm học vấn nào hay đă trải qua những thời kỳ đào tạo cơ bản ở đâu. Có lẽ ông chỉ học tại nhà và tại các trường địa phương, hoặc học với người anh là Basilio và người chị gái Macrina, nhưng những tác phẩm của ông cho thấy một nền học vấn uyên thâm khó b́ trong số các nhà văn chương đương thời[3]. Ông đă lănh chức Lector, rồi sau đó đi học khoa tu từ học. Khác với anh Basilio và người bạn Gregory kia, ông sống đời sống gia đ́nh, nhưng bà nhà lại qua đời sớm, để lại ông một ḿnh. Ông được trao chức vụ Giám mục và cai quản tại Nysse, một thị trấn nhỏ gần Ceasarea. Tuy nhiên, dường như ông thích hợp với ơn gọi đan tu hơn là một mục tử. V́ thế, ông không quan tâm nhiều đến việc quản trị giáo phận. Ông cũng đă từng bị cách chức giám mục (k. 376) và lại được phục hồi. Ông qua đời vào năm 394 [4].
Ông đă để lại nhiều tác phẩm suy tư uyên thâm và bác học sâu sắc cả về thần học lẫn tâm linh, nhất là huyền đạo. Các tác phẩm ông đă chước tác thuộc những lănh vực như : tín lư, chú giải Kinh thánh, tu đức, diễn từ và thư tín[5]. Ngoài những bài viết tín lư để bảo vệ Thần Tính của Chúa Con[6] và Chúa Thánh Thần, những bài chú giải về Kinh Thánh, những bài viết về đời Đan tu (tu đức) và những bài giảng dạy khác, ông c̣n để lại một di sản về Linh đạo thần bí phong phú và căn bản cho đời sống tâm linh. Qua những tác phẩm : Cuộc đời ông Môsê (De vita Moysi) và chú giải sách Diễm ca (in Canticum canticorum homiliae XV) …[7], ông được biết đến như là ông tổ của thần học huyền nhiệm Kitô giáo[8] .
Đây là một hành tŕnh tâm linh. Giá trị đặc biệt trong linh đạo huyền nhiệm Kitô giáo của Gregory of Nysse, là ông đă đặt nền tảng cho nền thần bí Đông Phương với việc nhấn mạnh đến một đời sống ra không (via negativa). Giá trị cơ bản này được ông diễn đạt trong các tác phẩm : Cuộc đời ông Môsê (390) và Chú giải sách Diễm Ca[9]. Trong tác phẩm Cuộc đời ông Môsê, tác giả lấy lại ba hành tŕnh thực hành đời sống tâm linh trong tác phẩm cùng tên của Origenes nhưng diễn xuất theo một chiều hướng ngược lại tư tưởng của Origenes. Tác giả đảo lộn h́nh thức hành tŕnh tâm linh để bắt đầu từ ánh sáng, mây mù và đêm tối thay v́ từ đêm tối đến ánh sáng và sáng hơn như quan điểm của Origenes. Nền tảng cơ bản này đă tạo nên ảnh hưởng sâu rộng sau đó, đặc biệt vào nền tu đức đan tu Tây phương ở thế kỷ 10 dưới thời của thánh Bernard of Clairvaux và William of St. Thierry và dĩ nhiên một cách nào đó có ảnh hưởng vào thời Trung cổ với sự xuất hiện trường phái thần bí sống Rhin gồm các nhà thần bí Đaminh[10]; phong trào thần bí thời hai thánh Gioan Thánh giá và Têrêsa Avila trong thời Cải cách và các tác giả khác tại Tây Ban Nha. a. Hành tŕnh gặp gỡ Thiên Chúa Trong linh đạo huyền nhiệm, tác giả giới thiệu cho tất cả Kitô hữu con đường đến gặp gỡ Thiên Chúa, để trong ánh sáng của Thiên Chúa con người hiểu biết Thiên Chúa và yêu mến Thiên Chúa một cách mật thiết. Chính v́ thế, tronng các bài giảng hoặc chú giải về Kinh thánh, vị giám mục không ngừng nhắc nhở các tín hữu về đời sống huyền nhiệm mà họ đă được lănh nhận từ bí tích Thanh tẩy và bí tích Thánh thể. Đối với vị giám mục thành Nysse, các tín hữu đă mang mầm mống sức sống thần linh ở trong ḿnh, điều quan trọng là cần giúp cho những mầm mống sức sống thần linh ấy được phát triển qua việc thực hành đức hạnh. Do vậy, tác giả đă dùng cuộc đời ông Môsê là một h́nh tượng cơ bản cho những suy tư của ḿnh. Trong tư tưởng của ngài, cuộc đời người Kitô hữu được ví như một hành tŕnh đi lên giống như ông Môsê đă lên núi để gặp Chúa. Dựa vào tác phẩm Cuộc đời ông Môsê, tác giả mô tả 3 chặng của sự hiểu biết Thiên Chúa : 1) Trong chặng thứ nhất, ông Môsê đă được Chúa hiện ra trong bụi lửa (Xh 3). Chặng này được coi như là sự thanh luyện (katharsis). Tác giả nghĩ rằng, mọi Kitô hữu cũng giống như ông Môsê phải lột bỏ giày và đi chân trần để đến với Chúa. Sự lột bỏ này chính là lột bỏ tội lỗi, những vết tích trần tục ngơ hầu đạt tới sự tự do tinh thần. 2) Ở chặng thứ 2 tượng trưng cho đám mây bao phủ ở trên núi Sinai (Xh 19), con người phải rút lui vào đời sống nội tâm, con người phải biết vươn lên từ lănh vực khả giác sang lănh vực trí tri, loại bỏ các h́nh ảnh để chỉ giữ lại các ư niệm, chuẩn bị cho sự chiêm niệm (theoria). 3) Sang chặng thứ 3, tượng trưng nơi đêm tối (Xh 20, 21), con người phải vượt lên trên tất cả những ư niệm, tư tưởng để chỉ c̣n giữ lại đức tin mà thôi. Theo tác giả, đức tin là “đêm tối rạng ngời”. Đức tin được ví với đêm tối bởi v́ Thiên Chúa quá cao vời, vượt quá khả năng diễn tả của ư niệm; nhưng chính trong đêm tối rạng ngời ấy, con người được đưa vào huyền nhiệm của Thiên Chúa[11]. Cho nên, cảm nghiệm Thiên Chúa trong đêm tối (theognosia) mới là sự cảm nghiệm chân thực về Thiên Chúa. Như vậy, khác với quan điểm thực hành tâm linh của vị tiền bối cũng như của Evagrio Pontio (345-399)[12] về đời sống t́m gặp Thiên Chúa, vị giám mục đă muốn người ta đi từ ánh sáng đến bóng tối, thay v́ đi từ đêm tối của đức tin đến ánh sáng rạng ngời trong gặp gỡ Thiên Chúa[13]. Nói như thế, điều này giúp ḿnh nhận ra một giá trị trong tư tưởng của ông là lời mời gọi con người hăy ra khỏi chính ḿnh, t́m cách đi lên cao hơn măi. Và hành tŕnh đến với Thiên Chúa th́ luôn khởi đầu. Đích điểm chính là khởi điểm. Tất cả đều mới. Tất cả đều là khởi đầu lại. Và như thế, hành tŕnh này được ví là một sự tiến triển liên lỉ (epéktasis). Chỉ trong ánh sáng của đức tin, mới giúp con người nhận biết Thiên Chúa và được hiểu biết Thiên Chúa. b. Hăy bắt đầu lại bằng cuộc ĐI LÊN để gặp Thiên Chúa Người ta thường ví chuyện con ếch mà chỉ ngồi trong đáy giếng th́ nó chỉ có thể thấy được bầu trời của nó là cái ṿng tṛn, hay cái h́nh vuông của miệng giếng và thế giới xung quanh của nó chỉ là khu vục nó đang ngồi. Nhưng một khi con ếch đă trèo qua miệng giếng th́ nó nhận thấy bầu trời bao la quá và thế giới quanh nó cũng mênh mông quá. Điều này có lẽ cũng rất phù hợp cho suy niệm của tác giả. Ngài muốn mời gọi các tín hữu hăy ư thức rằng, hành tŕnh thiêng liêng không đơn gian một tư nào, một khi con người muốn thực ḷng t́m kiếm và truy t́m nó. Để đến gặp Chúa, ông Môsê được yêu cầu phải tháo cởi dẹp dưới chân ông ra, v́ có lời rằng : nơi ấy là đất thánh. Việc ông Môsê tháo cởi dép dưới chân ra tượng trưng cho việc loại bỏ những bụi bặm đang dính dưới chân …, suy ra đó chính là việc loại bỏ những tội lỗi mà con người phạm phải. Như thế, một khi để ánh sáng Thiên Chúa chiếm ngự hoàn toàn, linh hồn cần phải được thanh luyện, loại bỏ những nết xấu, cho đến các cảm t́nh và ư tưởng.
Ø đi lên bằng một ước muốn t́m gặp Vị giám mục đă tŕnh bày h́nh ảnh ông Môsê bỏ lại dân Israel dưới chân núi xa xa và một ḿnh lên gặp Thiên Chúa. Ông đi một ḿnh không có ai tháp tùng. Càng lên cao, ông càng ít nhận được ánh sáng mặt trời chiếu soi, mà chỉ là những đám mây dầy đặc. Và đó chính là khởi đầu cho một hành tŕnh tâm linh. Chuyện ông Môsê được yêu cầu cởi dép ra, chuyện ông lên núi mà măi vẫn bị đám mây dầy đặc che phủ, ám chỉ cho việc người Kitô hữu cần phải loại bỏ đàng sau hết những kiến thức, h́nh ảnh mà nhờ giác quan ḿnh thu nhận được. Và đến một lúc nào đó, ngay cả chuyện cần loại bỏ cả khả năng trí tuệ của ḿnh nữa. V́ mọi tri thức th́ hạn hẹp trước sự huyền nhiệm của Thiên Chúa vô biên. Khởi đầu cho một hành tŕnh gặp gỡ là những cuộc đi lên, và bắt đầu lại. Dĩ nhiên, trong mối tương quan này, ḿnh nhận thấy có sự tác động hay như một sự khởi gợi từ Đấng Hiện Hữu. Chính Thiên Chúa sẽ luôn gợi lên trong linh hồn niềm khát khao muốn hiểu biết và gần gũi Thiên Chúa. Trong cánh đồng gần chỗ Môsê đứng, Thiên Chúa đă làm cho bụi gai rực cháy mà không bị thiêu rụi. Tâm trí của ông Môsê bị thôi thúc muốn t́m hiểu điều ǵ đang xảy đến ! Và một điều chắc chắn là ông Môsê đă để lại dân dưới chân núi và ḿnh ông lên núi để gặp Thiên Chúa. Ḷng khát khao t́m đến với Chúa thôi thúc ông muốn t́m hiểu Thánh ư của Người. Muốn gần gũi Người và hiểu biết Người. Nhưng cũng chính khi tưởng chừng như đă t́m gặp được điều mong ước th́ con người lại cảm thấy một khoảng cách mênh mông vô tận của cuộc gặp gỡ. Cho nên con người vẫn khát mong “cho đến khi được an nghỉ bên Ngài” (T. Augustine). Vị giám mục Nysse viết : “Sự yêu cầu can đảm của linh hồn lên Núi ao ước, đó là không chỉ hưởng Vẻ đẹp qua gương soi và phản ánh, nhưng là diện đối diện. Tiếng nói của thần linh ban những ǵ kêu cầu bằng những điều mà tiếng nói đó từ chối, trao hiến qua một ít từ ngữ một vực thẳm mênh mông tư tưởng : sự đại lượng của Thiên Chúa ban cho linh hồn sự thành toàn của ước muốn, đồng thời không hứa cho linh hồn sự nghi ngờ hoặc sự chán ngán (…) Bởi v́ thị kiến đích thực Thiên Chúa chính là như thế, tức trong sự kiện là người hướng nh́n mắt lên Thiên Chúa th́ không ngừng ao ước Ngài”. Một khi đă tiến lên trong sự ước muốn th́ sẽ không ngừng ước muốn măi : Tiếp đó linh hồn nói : ‘chàng hăy đưa em em vào hầm rượu, hăy thức tỉnh t́nh yêu trong em’ (Dc 2, 4). Cơn khát của linh hồn đă lên dữ dội đến nỗi ‘chén khôn ngoan’ (Cn 9, 2) không c̣n làm ḷng nàng no thoả, chén đă dốc cạn mà cơn khát dường như khổn thể nguôi ngoai. Nàng đ̣i được đưa vào tận trong hầm rượu và kề môi ngay vào những thùng chứa đầy ắp những thứ rượu ngọt ngào. Nàng muốn được nh́n thấy chùm nho ép trong thùng, thấy cây nho đă sản sinh ra chùm nho đó, thấy người trồng nho của cây nho đích thức, người đă trồng tỉa nên chùm nho sai trái và ngọt ngào. Chính v́ thế mà linh hồn khao khát được vào hàm rượu nơi huyền nhiệm của rượu ngon được thực hiện. Khi đă đi vào, linh hồn lại vươn lên cao hơn nữa. Nàng xin được thần phục t́nh yêu. Mà t́nh yêu, Gioan nói, đó là Thiên Chúa (Hom. Sur le Cantiques des cantiques IV. PG 44, 845 AB).
Ø Nhưng “Thiên Chúa ở bên kia Thiên Chúa” Thần học gia Tin Lành Paul Tillich đă nói như thế. Thiên Chúa ở bên kia Thiên Chúa : điều này cho thấy, đằng sau những quan niệm viễn vông và sai lạc về Thiên Chúa, có hàm ẩn một thực tại chính là Thiên Chúa đích thực. Thiên Chúa sẽ ở bên kia mọi danh xưng. Chính v́ thế, vị giám mục Nysse một cách nào đó đă nhắc nhở tín hữu về việc sử dụng tri thức để hiểu biết Thiên Chúa. Thiên Chúa không là Thiên Chúa của trí tưởng. Cho nên, t́m gặp Ngài và hiểu biết về Ngài, đ̣i hỏi con người phải nên khác. Có một học giả đến hỏi một đạo sĩ để hiểu biết về lẽ khôn ngoan. Vị đạo sĩ mời vị học giả vào nhà và mời trà ông. Vị đạo sĩ lấy b́nh rót trà mời khách. Ông rót măi cho đến khi chén trà đă đầy tràn mà ông vẫn cứ như không hay biết ǵ cả. Vị học giả lấy làm buồn bực và nói : ḱa ông, ông không biết là chén trà đă đầy rồi sao ? Vị đạo sĩ bấy giờ mới ngưng rót và nhẹ nhàng nói với vị học giả : “ông cũng giống như chén nước trà này. Trong người ông đă có quá nhiều tư tưởng th́ làm sao có thể chứa thêm được nữa”. Với vị giám mục Nysse, tội lỗi và những thứ đam mê khác sẽ làm cản trở cho việc gặp gỡ ánh sáng. Nó sẽ che khuất tất cả ánh sáng đang chiếu sáng quanh ta. Hay một cách khác, nó sẽ trở thành khoảng cách ngăn cản sự tiến lại gần giữa con người với Thiên Chúa. Cho nên, “một khi linh hồn được giải thoát khỏi những đam mê th́ lại có thể nhận biết Thiên Chúa, được kết hợp với Chúa Kitô trong hôn phối thiêng liêng và hầu như có thể nhận biết Thiên Chúa, được kết hợp với Chúa Kitô trong hôn phối thiêng liêng và hầu như được phục sinh vậy” (De la Virginité). Quả nhiên, vị giám mục không tán thành cho lắm chuyện dùng tri thức để t́m gặp Thiên Chúa. Chính v́ lẽ này mà, ngài đă kịch liệt chống lại tư tưởng của Eunome de Cyzinque, một người thuộc bè rối Arius và thấm nhuần tư tưởng Aristotes khi cho rằng : “Tư tưởng con người có thể thấu suốt yếu tính cuả Thiên Chúa, v́ Thiên Chúa là tác giả của ngôn ngữ và là Vị đặt tên cho vạn vật ngay cả trong sự đa phức của chúng ; Người thông tri những điều ấy cho những tôi tớ được linh hứng của Người”[14]. Vị giám mục đă đối lại tư tưởng của ông Eunome như sau : “Thiên Chúa tự khải qua những điều Người tỏ lộ, nhưng chính hữu thể của Người th́ không bao giờ thấu đạt được”. Ngài thêm rằng : “dù sao, ngôn ngữ vẫn là sản phẩm của loài người. Ngay cả ngôn ngữ của Kinh thánh cũng bị giới hạn vào những biểu tượng vay mượn ở thế giới khả giác : ngôn ngữ không đủ để diễn đạt sự vô hạn của Thiên Chúa, Đấng thực sự là khôn tả. Người ta chỉ có thể nói về Thiên Chúa điều Người không là (ce qu’il nest pas)”[15]. Vị giám mục nói rằng : “Điều mà Ngôi Lời bênh vực trước hết, đó là không để cho con người đồng hoá Thiên Chúa với những ǵ mà họ hiểu biết ; qua đó, ḿnh hiểu rằng mọi ư niệm được h́nh thành bởi sự đồng ư để thử đạt thấu và vây bọc bản tính Thiên Chúa th́ chỉ có thể tạo ra một ngẫu tượng Thiên Chúa, chứ không làm cho Ngài được hiểu biết”. Tuy nhiên, ngài cũng khẳng định một điều rằng, linh hồn một khi được giải thoát khỏi những ràng buộc đam mê và tật xấu th́ có thể nhận biết Thiên Chúa, kết hợp với Thiên Chúa trong ư nghĩa thiêng liêng.[16]
Ø “Ánh sáng, đám mây và đêm tối” Người b́nh dân cho đây là một lối xây dựng kỳ cục.[17] V́ người ta vẫn có thói quen sẽ trèo lên đỉnh núi và nh́n thấy ánh sáng chói chang và chiêm ngưỡng cả thế giới. Khởi đầu của cuộc leo núi là những che khuất và khiến người ta cứ nh́n lên cao măi cho đến khi chân của họ đứng trên đỉnh núi cao. C̣n đối với vị giám mục Nysse, hành tŕnh tâm linh sẽ phải đi từ ánh sáng, qua mây mù và vào đêm tối. Ngài viết như sau : Sự tỏ hiện của Thiên Chúa cho Môsê vĩ đại xảy ra trước hết là qua ánh sáng (từ bụi gai), sau đó Thiên Chúa đă nói với ông trong đám mây, cuối cùng khi đă trở nên hiểu biết hơn, hoàn hảo hơn, Môsê được nh́n thấy Thiên Chúa trong bóng tối. Đây là điều ḿnh cần phải học hỏi qua tiến tŕnh này. Đi từ bóng tối tới ánh sáng là hành vi tách biệt đầu tiên, khỏi những ư tưởng sai trái và lầm lạc về Thiên Chúa. Trí tuệ chú ư hơn tới những tại ẩn giấu sẽ dẫn đưa linh hồn đi từ những sự vật hữu h́nh tới thực tại siêu h́nh, ví tựa một đám mây che tối mọi thực tại khả giác. Cuối cùng, khi đă đi qua những con đường đó tiến về những điều trên cao, rời bỏ các thực tại trần thế theo như khả năng con người có thể, linh hồn tiến vào trong các thẩm cung của tri thức về Thiên Chúa, được bóng tối thần linh bao trùm trọn vẹn. [18] Người ta nhận xét, với việc tŕnh bày những bước đi như thế, vị giám mục đă chỉ cho các Kitô hữu một hành tŕnh vững chắc, bởi chính trong đêm tối, ḿnh sẽ gặp được chính Chúa. Đây chính là cuộc gặp gỡ trong thâm cung, trong nơi kín đáo chỉ có ta và người ta t́m kiếm. Sự đạt được như thế là do ḷng khát mong và đức tin của ḿnh sẽ khắc giúp. Tác giả Sphanneut viết như sau : “… thật là bước đi lên kỳ lạ (trong ánh sáng, đám mây và đêm tối) đối với cái nh́n của người phàm tục, tuy nhiên, đây là một bước đi lên khá vững chắc, v́ dựa trên triết thuyết Platon đă được Kitô hoá đúng mức và dựa trên một bậc thầy là Origenes”. Khởi đầu cuộc t́m kiếm của con người vào sự gặp gỡ chính Thiên Chúa tưởng chừng là dễ dàng, bởi ngay từ ban đầu họ đă nhận được ánh sáng của Thiên Chúa mời gọi (Môsê đă nh́n thấy h́nh ảnh Thiên Chúa qua h́nh ảnh bụi gai rực lửa và ông được yêu cầu tháo cởi dép dưới chân ông ra). Tuy nhiên, chặng đầu tiên này chỉ là một h́nh thức dự bị và chủ yếu thuộc b́nh diện luân lư. Theo như vị giám mục, đây là chặng khổ chế, nhằm đạt đến trạng thái không c̣n những đam mê, dục vọng, đây là trạng thái “apatheia”. Cũng biết rằng, trạng thái “apatheia” đă được phái Khắc kỷ mịnh hoạ và được tất cả nền luân lư của các giáo phụ lấy lại và những sắc thái và những dè dặt khác nhau. Trạng thái “apatheia” được khởi đi từ việc được thanh đạo (katharsis) hay là thanh luyện, và là bước đệm đầu tiên để tiếp tục “đi lên” nữa. Trong chú giải sách Diễm ca, vị giám mục đă nói về thanh đạo như sau : … V́ thế, linh hồn được giải thoát khỏi những khát vọng xác thịt của ḿnh, đón nhận được chứng từ mà linh hồn có được trong cặp mắt của ḿnh là h́nh ảnh của chím câu, nghĩa là dấu ấn của đời sống thiêng liêng chiếu sáng trong đồng tử của linh hồn ḿnh. Bởi v́ mắt đă được thanh luyện của người đó đă trở nên có thể đón nhận h́nh ảnh của chim câu, nó cũng có thể chiêm ngắm vẻ đẹp của phu quân. Và thực vậy, chính khi người thiếu nữ có được chim câu trong mắt ḿnh mà nàng lần đầu tiên nh́n chăm chú vẻ đẹp của phu quân (Chú giải sách Diễm ca IV). Sự thanh luyện khiến cho con người ta khát khao được t́m biết măi, nhưng như một biển trời mênh mông, vô tận. Thiên Chúa không ở đây hay ở kia. Thiên Chúa là Vô Cùng, là Alpha và là Omega, là Khởi thuỷ và Tận cùng. Ngài là vô cùng trong vạn thể. Hiện diện trong vạn thể. Do đó sẽ khó nhận biết và gặp gỡ Ngài nếu người ta mong thấy Ngài như lối người ta nghĩ. Ông Môsê đă khởi đi từ ánh sáng và ông sẽ lại phải vào đêm tối của cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa. Vị giám mục đă lư giải như sau : “Việc Môsê vào trong bóng tối và thị kiến mà trong đó ông nh́n thấy Thiên Chúa có nghĩa là ǵ ? Tŕnh thuật hiện tại xem ra có phần mâu thuẫn với cuộc thần hiện ban đầu : lúc trước là trong ánh sáng, bây giờ là trong bóng tối mà Thiên Chúa hiện ra. Dẫu vậy, ḿnh không được nghĩ rằng, điều này là không phù hợp với tŕnh tự b́nh thường của những thực tại thiêng liêng mà ḿnh xét đến”. Ngài khẳng định rằng : qua việc ông Môsê đi từ ánh sáng vào đêm tối gặp gỡ Thiên Chúa cho thấy “Ngôi Lời dạy ḿnh rằng, tri thức tôn giáo ban đầu là ánh sáng khi nó bắt đầu xuất hiện : thực vậy, nó ngược lại với ḷng vô đạo vốn là bóng tối, và bóng tối ran biến đi bởi sự vui mừng của ánh sáng. Nhưng càng lúc tinh thần, trong sự tiến triển của ḿnh về phía trước do một nỗ lực thực hành, càng ngày càng nhiều và càng hoàn hảo hơn, đạt đến chỗ hiểu về tri thức những thực tại và càng tiếng dần hơn đên sự chiêm ngắm, th́ tinh thần càng thấy bản tính thiêng liêng là vô h́nh”.[19] Như vậy, tri thức con người sẽ phải ngang qua những đám mây bao phủ. Cái biết cơ bản đầu tiên của con người sẽ phải được thanh luyện nữa để có thể gặp gỡ chính Thiên Chúa trong diện đối diện. Như thế, điều này cho thấy khả năng và tri thức con người vừa được nhận biết trong ánh sáng, lại vừa phải nhận biết trong bóng tối. Một h́nh thức mơ hồ và cần nỗ lực ! Bởi ở đây, sự bao phủ của các đám mây tượng trưng cho một sự rút lui vào cô tịch. Con người tâm linh cần phải đi vào nơi cô tịnh. Ông Môsê đă chẳng bỏ dân Israel dưới chân núi và một ḿnh lên núi gặp Chúa sao ? Ông càng lên cao th́ càng thấy mây bao phủ nhiều. Nhưng chính trong những đám mây dầy đặc và bóng đêm bao phủ kia, có một điều lạ lùng xuất hiện : ông đă nhận biết và gặp gỡ Đấng ông mong đợi[20]. Chính trong sự cô tịnh của đời sống, người Kitô dần dần cảm nhận sự xuất hiện của Thiên Chúa, một Thiên Chúa không chỉ xuất hiện qua bụi gai cháy rực lửa mà cả ở trong đám mây. Cho nên, những ư niệm mà ḿnh có được từ ban đầu (thị kiến bụi gai) về Thiên Chúa cần phải được tiếp tục thanh luyện, v́ : “Thiên Chúa ở bên kia mọi danh xưng”. Sự cô tịnh, trống vắng đôi khi đến rợn người từng bước giúp con người có một khái niệm khác về Thiên Chúa : “Ḿnh c̣n vượt qua thế giới của tinh thần của những ư niệm, phải từ bỏ thế giới đó và, qua đêm tối của tinh thần của trí tuệ, đạt tới thế giới của nhất thể mà Plotin đă đoán ra nhờ một kinh nghiệm siêu lư (supprarationnelle), trong sự hiển lộ lặng im của hiện diện thần linh. Đây là con đường kết hiệp, con đường thần hiệp” mà sau này nền tu đức sẽ xác định rơ hơn.[21] Ông Môsê đă lên cao với một ḷng ước muốn t́m gặp Thiên Chúa sâu xa. Và ông lại được mời gọi lên cao nữa : “Với kẻ đă thức tỉnh th́ Ngôi Lời nói : ‘Hăy đứng lên’ và với kẻ đă đi tới, Ngài nói ‘Hăy đến’. Quả thực, kẻ nào đă thực sự đứng lên, sẽ không bao giờ thiếu đ̣i hỏi đứng lên măi, kẻ nào đă chạy về phía Chúa sẽ chẳng thấy con đường chạy tới Ngài là cả không gian mênh mông bát ngát. Cần phải tỉnh thức luôn luôn và khi đă đến gần, th́ không bao giờ ḿnh được dừng lại. Ngài càng nói : ‘Hăy đứng lên’, và ‘hăy đến’ bao nhiêu th́ Ngài càng ban cho ḿnh sức mạnh để đi tới những đỉnh cao hơn bấy nhiêu” (Hom. Sur le Cant. des Cant.V, PG 44, 876 C). Như thế, chính trong sự ước ao vào trong “thâm cung” con người sẽ được dắt vào chiêm ngưỡng những điều kín nhiệm. Chính ở nơi đây, con người được tiếp xúc với cảm nghiệm thần linh về sự hiện diện của Ba ngôi ngự trong linh hồn. “Môsê đă đi vào trong bóng tối nơi mà Thiên Chúa ngự trị”. Đêm tối cũng đồng nghĩa với sự vô minh. Nhưng với Thiên Chúa, “Đấng đă làm cho bóng tối thành nơi ẩn cư của Ngài”. Dường như, vị giám mục đă cảm nghiệm đặc biệt về biến cố gặp gỡ Thiên Chúa trong chính cuộc sống có vẻ im lặng của ngài hơn so với các vị cùng ở Cappadocia. Cho nên, người ta nhận xét rằng, dường như ngài phù hợp với đời đan tu hơn là ơn gọi mục tử (lúc này ngài đă là giám mục Nysse). Đức Giêsu khi dạy về cầu nguyện đă từng nói : “hăy vào pḥng và đóng cửa lại”, để ở đó “chỉ có người và Cha Trên Trời thấu biết”. Điều này cũng không nằm ngoài giá trị căn bản cho một đời sống thiêng liêng nhất là đời đan tu lúc bấy giờ. Song hành tŕnh đi lên măi theo lối tŕnh bày của vị giám mục Nysse không dừng lại ở bất kỳ một lănh vực nào liên hệ đến con người. Nó được mở rộng đến toàn thể cuộc sống, nghĩa là qua các hành động luân lư và nhân đức nữa. Bởi xét rằng một khi : “Thiên Chúa ở bên kia Thiên Chúa”, hoặc “Thiên Chúa ở bên kia mọi danh xưng” th́ ngay lập tức cho thấy sự hiện diện của Thiên Chúa ẩn hiện trong tất cả cuộc sống con người. Nhưng không v́ thế mà không cần một lối riêng cho cuộc gặp gỡ. Bởi Thiên Chúa th́ Vô Cùng và bao trùm. Lối riêng cho cuộc gặp gỡ ấy chính là một đ̣i hỏi phải đi lên măi từ thái độ này đến thái độ khác, nhưng nền tảng cho lối đi lên cuộc gặp gỡ ấy chính là ḷng mến và đức tin vẹn tuyền. Chính đức tin và ḷng mến đem họ lại gần Thiên Chúa. Và một khi càng lại gần Ngài bao nhiêu, người ta sẽ lại càng mến Ngài bấy nhiêu, cho dù họ cảm thấy đau đớn v́ nhận thấy khoảng cách đối với Ngài.[22] Trong chặng thứ ba của cuộc gặp gỡ, người ta nh́n thấy một khía cạnh của nỗi đau. Nỗi đau không phải v́ không được gặp Ngài. Họ đă gặp Ngài và ch́m ngập trong ḷng hân hoan cảm tạ. Nhưng lại gặp Ngài trong “đêm tối của đức tin” tựa như một “giấc ngủ tỉnh giấc” hay “giấc ngủ mơ màng”. Anh sáng chói chang phát ra từ Ngài khiến cho họ bối rối và thấy đau đớn. Cái đau đớn v́ không thể nắm bắt được Ngài ! Nhưng cái đau đớn đó lại trở nên êm dịu v́ những cảm nếm về Ngài. Sự gặp gỡ này khiến cho con người sống một tương quan mới với Thiên Chúa; mối tương quan không dựa trên ngôn ngữ, h́nh ảnh mà là trong một tương quan t́nh yêu. Đây chính là h́nh ảnh của một cuộc thần hiệp hay là đă đạt đến một sự Minh đạo. Điều này cho thấy một giá trị đặc biệt là chính ông Môsê sau khi đă lên núi gặp Thiên Chúa, và khi trở xuống, khuôn mặt của ông đă ngời sáng phản ánh h́nh ảnh của Thiên Chúa. Sự kiện lạ lùng này khiến cho dân Isarel đang đợi ông dưới chân núi lấy làm khiếp sợ.
a. Người đặt nền móng cho đời sống thần bí Kitô giáo Ḿnh lặp lại lời nhận xét sau : “… thật là bước đi lên kỳ lạ (trong ánh sáng, đám mây và đêm tối) đối với cái nh́n của người phàm tục, tuy nhiên, đây là một bước đi lên khá vững chắc, v́ dựa trên triết thuyết Platon đă được Kitô hoá đúng mức và dựa trên một bậc thầy là Origenes”. Vị giám mục Nysse đă sử dụng lối chú giải ẩn dụ của Platon và hành tŕnh tâm linh theo Origenes để xây dựng một hành tŕnh tậm linh khác, mời gọi đạt đến một t́nh trạng vô ngôn (apophatica) hay theo một nghĩa nào đó là tự huỷ (kenosis). 1) Một sự vô ngôn trước sự hiện diện của Đấng Vô h́nh. Mọi tri thức chỉ có thể hiểu được một khía cạnh nào đó về Ngài, nhưng trong sâu xa mọi tri thức đều hạn hẹp trước sự vô cùng vô tận sự hiện diện của Ngài. Và chỉ có thể kết hiệp với Ngài bằng ḷng ao ước “đi lên” cùng Ngài trong thanh luyện, thinh lặng và chiêm ngắm. 2) Một sự tự huỷ ḿnh trước sự hiện diện của Ngài cho thấy một khát vọng sâu xa muốn gần gũi với Ngài và muốn trở nên giống Ngài. Ḷng khát khao sâu thẳm ấy khiến cho “Nàng đ̣i được đưa vào tận trong hầm rượu và kề môi ngay vào những thùng chứa đầy rượu ngọt ngào”. Vị giám mục đă mở đầu cho một đời sống thần bí và một nền thần học thần bí và đă ảnh hưởng trực tiếp qua mọi thời đại trong chiều kích tâm linh Kitô giáo cả Đông lẫn Tây Phương. Điều này được thể hiện qua những phong trào đan tu, phong trào thần bí xuất hiện sau đó, và một vài phong trào tiêu biểu như : những nhà thần bí thuộc trường phái sông Rhin, phong trào thần bí Tây Ban Nha với Thánh nữ Têresa Avila và Thánh Gioan Thánh giá….[23] b. Hành tŕnh đi lên với Thiên Chúa đ̣i hỏi khát vọng và sự bền chí Hành tŕnh mà vị giám mục mời gọi ḿnh đạt tới cần có một sự nỗ lực luôn măi. Hay nói cách khác, “hành tŕnh tiến đến Thiên Chúa luôn luôn ở giai đoạn bắt đầu : đích điểm trở thành khởi điểm ; vừa mới tới nơi th́ đă vội lên đường. Con người không ngừng khởi hành, bắt đầu lại : không phải là lặp lại những cái cũ mèm, nhưng bắt đầu từ chỗ mới toanh. Và hành tŕnh này đ̣i hỏi một sự tiến triển liên lỉ (epéktasis)”.[24] Bản tính con người rất dễ phản ứng trước những khó khăn. Do vậy, có thể lắm với lối tŕnh bày về hành tŕnh tâm linh của vị giám mục Nysse, người ta sẽ dễ đi vào một sự hoài nghi ! Cho dù “mọi khám phá đều làm nảy sinh niềm hy vọng khám phá thêm nữa. Việc đóng cửa “lâu đài nội tâm” để đi vào đời sống gặp gỡ chính Thiên Chúa đ̣i hỏi phải một sự từ bỏ dứt khoát những vướng bận chung quanh. Điều này rất phù hợp với đời tu và nhất là đời đan tu. Nói như thế, không phải là không có thể được đối với những Kitô không sống đời tu. Vị giám mục đă muốn mở rộng giá trị sự kết hợp với Thiên Chúa trong mọi khía cạnh của cuộc sống. Nhưng một khía cạnh nào đó, điều này rất khó thực hiện đối với đời sống Kitô ngày nay ! Dẫu biết rằng, trong cuộc hành tŕnh tâm linh, Thiên Chúa luôn bắt đầu trước. Chính Ngài khơi dậy khát khao trong ḷng ông Môsê và như vậy, Ngài cũng sẽ khơi dạy khát khao t́m kiếm này trong ḷng mỗi Kitô. V́ “trong bạn, có một khả năng có thể đạt tới sự chiêm ngắm Thiên Chúa. Đấng tác tạo nên bạn đă đặt vào trong bản tính của bạn, trong chính yếu tính của bạn khả năng tốt đẹp đó. Thiên Chúa khắc ghi vào các năng hướng tự nhiên của bạn những h́nh ảnh về các điều thiện hảo của chính bản tính Ngài, như thế Ngài ấn sẵn một h́nh tượng để chạm trổ vào miếng sáp ong” (Hom. sur les beatítudes VI, PG 44, 1270C-1270B). Song điều cần thiết trong hành tŕnh đi lên gặp gỡ Thiên Chúa, đ̣i hỏi phải có một nỗ lực luôn măi. Những cảm nhận ban đầu không giúp người ta khám phá ra yếu tính chính Thiên Chúa. Con người được đ̣i hỏi gột rửa chính những cảm giác và suy nghĩ của ḿnh về Thiên Chúa để đi vào sự gặp gỡ Thiên Chúa. Trí thức chỉ giúp khám phá phần nào về yếu tính nơi Ngài và v́ thế, trí thức không thể nắm trọn về Ngài mà chỉ mời gọi t́m kiếm Ngài măi thôi. Một khi con người dốc toàn tâm vào việc t́m kiếm Ngài, ắt một ngày nào đó, họ sẽ được gặp Ngài và nhận biết Ngài, cũng như ông Môsê đă được gặp Ngài trong đêm tối. c. Hành tŕnh đi lên với Thiên Chúa được chính Thiên Chúa và Thần Khí của Người hướng dẫn Một điểm chắc chắn cho thấy, trong tất cả mọi hành tŕnh tâm linh, nếu con người không được sự tác động của Thần Khí Thiên Chúa th́ họ khó mà nhận biết Ngài. Đây là một điều mà ḿnh phải đón nhận. Con người không thể tự nhờ vào khả năng vốn hạn hẹp và vô tri của ḿnh. Con người phải cần đến sự hướng dẫn của Thần Khí, Đấng đă hướng dẫn ông Môsê và các tổ phụ Israel trong hành tŕnh lịch sử đi với Thiên Chúa của họ. Vị giám mục thành Nysse khi tŕnh bày về hành tŕnh thiêng liêng này, ngài cũng không loại trừ phải nại đến sự tác động, hướng dẫn của Thần Khí. Ngài cảm nhận chính Thánh Thần mới là Đấng hiện tại hoá và phổ quát hoá sự kiện (sự kiện của cuộc diện kiến, gặp gỡ) (1Pr 1-2:12). Trong ư hướng hoá giải đó, ngài cũng mở ra cho ḿnh một cái nh́n mới về việc gặp gỡ Thiên Chúa. Sự kiện t́m gặp Thiên Chúa hay khát khao đến cùng Thiên Chúa không hạn giới đối với bất kể một linh hồn nào cả, mà hơn hết là h́nh ảnh của một Giáo hội xuất hành. Cuộc xuấy hành của toàn thể Giáo hội và của riêng mỗi con người hướng về với Ngôi Lời, hướng về Thiên Chúa là Đất Hứa vĩnh cửu, không khi nào đạt tới. Chính miền đất mà mỗi lần toàn thể Hội Thánh đặt chân lên lại là lúc bắ đầu một khát khao mới, một khát khao bước tới măi mà vẫn thấy khoảng cách. Ngài nhắc nhở rằng : “Kẻ khát khao bước lên cao th́ không bao giờ dừng lại” và v́ : Ta đạt tới Thiên Chúa bao giờ cũng là từ phía sau lưng, và măi măi ta khát khao Thánh nhan Ngài. Ông Môsê đă khát khao lên cao măi trong ư nghĩa ấy, và ông được Thần Khí Thiên Chúa đồng hành.
Người ta khẳng định, trong lănh vực thần bí, vị giám mục thành Nysse đă được thần hứng và là một ngôn sứ. Chính trong ư nghĩa của việc được thần hứng ấy, những suy tư của Ngài chảy ra và chất chứa đầy những h́nh ảnh rực chói. Thiên Chúa, “Đấng Vĩnh Cửu đă làm cho ngài say ngất, đă tác động vào ng̣i bút của ngài một cách mới mẻ, hiện đại đến không ngờ”. Quả vậy, vị giám mục thành Nysse được biết đến là một bậc thầy về chiêm niệm. Người anh trai của ngài “đă có công thiết lập các cấu trúc chê độ đan viện, c̣n Gregory of Nysse dầu không hệ thuộc về một cộng đoàn nào, nhưng cũng cung cấp cho cộng đoàn đan tu cũng như mọi Kitô hữu một linh đạo cao vời khôn sánh. Nếu Gregory of Nazianze không ngừng làm cho giáo lư của ngài mang đầy sức sống của một nhiệt hứng tâm linh mănh liệt, th́ Gregory of Nysse, theo sau Origenes, ngất say với một lối ẩn dụ táo bạo đă nối dài giáo lư vào trong đời sống thần bí, một đời sống dừng lại hầu như nơi ngưỡng của của thần linh. Evagre le Pontique, Pseudo Denys và Maxime le Confesseur chịu ảnh hưởng của ngài rất nhiều. Tuy thế, kẻ bị Thiên Chúa ám ảnh này, với cái nh́n đăm đăm hướng về Đấng Chí Cao vẫn không kém chú tâm đến con người và nỗi khốn cùng của con người”. Và đây lại là điểm đặc sắc của vị giám mục thành Nysse.
[1] Bộ ba những nhà thần bí tâm linh tiêu biểu cho phong trào thần bí tâm linh tại Đông Phương miền Cappadocia là Gregorio Nysse, Evagrio Pontico (Tk IV) và Dionysio Areopagita (Tk V). Điều này cũng cho ḿnh thấy rằng, luôn có hai truyền thống thần bí tâm linh tồn tại song song trong truyền thống tâm linh Kitô giáo : thần bí tâm linh Đông Phương và thần bí tâm linh Phương Tây. [2] Sở dĩ v́ nói Gregory of Nysse sinh trong một gia đ́nh đông con, v́ trong gia đ́nh này có tới 10 người con. Điểm đặc biệt là cũng chính trong gia đ́nh đạo hạnh này đă cung cấp cho Giáo hội 3 vị giám mục (Basil, Gregory và Peter). Xin coi : Edward R. Hardy (ed), Christology of the Later Fathers, Luoisville/ London/Leiden. Westminter John Knox Press, p. 236. [3] Xc. Edward R. Hardy (ed), Christology of the Later Fathers, Sđd, pp. 236 - 238 ; Phan Tấn Thành, Về nguồn, tập IV, Chân lư 2000, tr. 433 tt ; Giảng tŕnh Giáo phụ học, tài liệu dành cho Sinh viên Trung tâm học vấn Đaminh, niên khoá 2005-2006, tr. 128 tt. [4] Xc. Phan Tấn Thành, Về nguồn, tập IV, Chân lư 2000, tr. 433-434; Edward R. Hardy (ed), Christology of the Later Fathers, Sđd, pp. 236 - 238 [5] Xc. Việc phân chia này xin đọc trong Phan Tấn Thành, Về nguồn, tập IV, Chân lư 2000, tr. 434- 439 ; hay Edward R. Hardy (ed), Christology of the Later Fathers, Sđd, pp. 239-240, p. 250. [6] Có thể thấy tính quan trọng trong đóng góp của vị Giám mục Nysse này là việc phát triển suy tư về Kitô cách vượt mức suy tư. Có lẽ v́ thế, mà ngài đă được Công đồng Nicaea thứ 2 đặt cho tước hiệu là : “Father of Fathers”, “ngôi sao của Nysse” (Star of Nysse), “Doctor whole Church”… và nhiều danh xưng khác nữa. Xin coi : Edward R. Hardy (ed), Christology of the Later Fathers, Sđd, pp. 235 tt. [7] Xc. Phan Tấn Thần, Đời sống tâm linh, tập 2, Roma 2002, tr. 111 ; Edward R. Hardy (ed), Christology of the Later Fathers, Sđd, pp. 239. [8] Lịch sử linh đạo Kitô giáo có thể nói là được khởi đầu với những bản văn của ông Clementê thành Alexandria và Origène vào hồi thế kỷ III. Chính từ những bản văn này, các giáo phụ khác đă sử dụng vào việc truy t́m chân lư để áp dụng vào đời sống thực hành đức tin. Hành tŕnh này mời gọi người ta đến chỗ kết hiệp với Đạo (Minh Đạo) chứ không dừng lại ở chỗ chỉ suy tư mà thôi. Biết thêm rằng, ông Clementê là một triết gia Hy Lạp và là một tín hữu nhiệt thành. Ông đă áp dụng khả năng triết học cuả ḿnh vào việc tŕnh bày đạo lư Kitô giáo, qua ba tác phẩm tiêu biểu : Protrepticos (Khuyến dụ), Paedagogus (Sư phạm) và Stromata (Tấm thảm), ông mời gọi tất cả các triết gia hăy đến với Chúa Kitô để t́m sự cao minh đích thực… . Xc. Phan Tấn Thành, Đời sống tâm linh, tập II, Roma 2002, tr. 85-89. [9] Ngoài ra người ta cũng xếp các bài giảng về sách Giảng Viên (In Ecclesiasten homiliae VIII), các bài giảng các Mối Phúc (Orationes VIII de beatitudinibus) của vị giám mục vào loại chú giải theo nghĩa nghĩa ẩn dụ và mang đậm tính chất thần bí. Bởi, qua các bài giảng này, tác giả muốn khám phá ra 8 bậc của sự trọn lành dẫn đưa tới việc chiêm ngưỡng Thiên Chúa. [10] Người ta cũng nhắc đến các phong trào thần bí khác đặc biệt vào thế khoảng thế kỷ từ XIV-XVI, với các trường phái như trường phái sông Rhin như : Eckhart, Suso và Tauler; trường phái các nhà thần bí Tây Ban Nha như : Gioan Thiên Chúa, Têresa Avila .. Xin xem thêm Richard Woods, Mysticsm and Prophecy (the Dominican tradition), Orbis Books, Maryknoll, New York (1998). [11] Trích theo Phan Tấn Thành, Về nguồn, tập 4, Chân lư 2000, tr. 939-440. [12] Trong kinh nghiệm thần bí của Evagrio, ông cũng đưa ra ba chặng đường thực hành đó là : thực hành – vật lư (tri thức) – thần học (kết hợp với Chúa). [13] Trong trào lưu linh đạo thần bí, người ta nh́n nhận có hai h́nh thức của cuộc t́m gặp gỡ Thiên Chúa : 1) hành tŕnh t́m gặp Thiên Chúa khởi đi từ đêm tối đến ánh sáng hay c̣n gọi là huyền bí ánh sáng, với các vị tiêu biểu là Macariô ở Ai cập và Evagrio Ponticus ; 2) hành tŕnh t́m gặp Thiên Chúa khởi đi từ ánh sáng đến đêm tối hay c̣n gọi là huyền bí đêm tối, với các vị tiêu biểu là Gregory of Nysse và Đionysio Arêpagita. Xin xem Phan Tấn Thành, Đời sống tâm linh, tập IV, Roma 2004, tr. 179-180 tt ; H. Graef, The story of Mysticism, P. Davies, London, 1966, p. 84-85. [14] Trích lại trong M. Sphanneut, Giáo Phụ, tập 2, Đại chủng Viện Thánh Giuse, tr. 99 tt. [15] Xc, M. Sphanneut, sđd, tr. 99. [16] Vị giám mục không hẳn nhiên bác bỏ những cố gắng của ông Eunome về tri thức khi nói : “Kitô hữu có thể vận dụng tinh thần nhằm tự gỡ ḿnh khỏi cái khả giác và đọc ra ư nghĩa của các dấu chỉ, các biểu tượng tức là những tia sáng c̣n tạm bợ, và đó là nhữgn tỏ hiện của Thiên Chúa, những “thần hiển” : vũ trụ tạo thành biểu lộ cho Kitô hữu đặc biệt về ḷng ‘nhân ái’ của Thiên Chúa” (Vie de Moise). [17] Vị giám mục đă lấy lại tư tưởng này của ông Origenes về ba chặng trong hành tŕnh này. Thế nhưng, trong khi ông Origenes ví những chặng tiến bắt đầu từ đêm tối đến ánh sáng và sáng rực rỡ hơn, th́ vị giám mục Nysse lại nói ngược lại. Hành tŕnh này khởi đi từ ánh sáng, rồi tới mờ nhạt dần (mây mù) và cho đến lúc tối mịt. [18] Xc. Hom. Sur Le Cant. des Cant. XI, PG 44, 1000 CD : trích lại trong Giảng tŕnh Giáo phụ học, tài liệu dành cho Sinh viên Trung Tâm học vấn Đaminh, niên khoá 2005-2006, tr. 153. [19] Xc. Gregory of Nysse, Đời sống ông Môsê, II, 162. [20] Xc. Gregory of Nysse, Đời sống ông Môsê, II, 232. [21] Xc. Trích lại trong : M. Sphanneut, Giáo Phụ, tập 2, Đại chủng Viện Thánh Giuse, tr. 111. [22] X. Phan Tấn Thần, Đời sống tâm linh, t. 4, Roma 2004, tr. 188. [23] Xem thêm chẳng hạn : Paul Evdokimov, Đời sống thiêng liêng xưa và nay, bản dịch Việt ngữ do Đỗ Ngọc Bảo, OP. không rơ năm ấn hành ; Alain de Libera, Eckhart, Suso, Tauler hay là việc thần hoá con người, bản Việt ngữ, do Ḍng Đaminh chuyển dịch. Không rơ năm xuất bản ; hoặc ngay với cả tác phẩm Đối Thoại của thánh nữ Catharina de Sienna. Bản dịch Việt ngữ của Bùi Đức Sinh cùng với Trần Thái Đỉnh và Phạm Tường, Nhóm phục vụ Lời Chúa xuất bản 2003, Calgary/Alberta, Canada. [24] X. Phan Tấn Thành, Đời sống tâm linh, t. II, Roma 2002, tr. 113.
|
|