HOME

 
 


Vai tṛ cỦA lương tâm

 

Vấn đề, sứ vụ và vai tṛ của lương tâm đă trở thành một đề tài căn bản trong những suy nghĩ về đạo đức và luân lư ở thời đại chúng ta. Có những người hành động bất chấp qui tắc đạo đức và chống lại tiếng gọi của lương tâm. Có những người khác lại thường  viện dẫn thế giá của lương tâm để củng cố và biện minh cho một lựa chọn nào đó của ḿnh : “Tôi đă làm theo lương tâm”.

Làm theo lương tâm” là làm theo một định hướng luân lư căn bản, nhưng như vậy phải chăng đă chu toàn trách vụ đạo đức ? Phải chăng nhân danh lương tâm con người đă thực hiện nhiều hành vi vĩ đại, cao cả, nhưng đồng thời, nhân danh lương tâm có người đă làm nhiều chuyện phi lư và vô nhân đạo ? Trên thực tế, hầu như không có một hành động dă man và tàn bạo nào đối với tha nhân hay đối với chính ḿnh mà không được biện minh nhân danh chính lương tâm. Qua những biểu lộ thật khác biết đó, lương tâm quả thật rất đa diện. Phải chăng tất cả những biểu hiện khác nhau đó của lương tâm đều có cùng một nội dung ?” Từ đó phải chăng cần đặt nổi vấn đề soi sáng và đào tạo một lương tâm trong sáng trong một xă hội vàng thau lẫn lộn ?

Về vấn đề này, tâm lư gia Erich Fromm đă có những ḍng thật thâm thúy và sắc nét : “Đứng trên b́nh diện đạo đức, không có ǵ hănh diện hơn khi một người tuyên bố : tôi đă hành động theo lương tâm của tôi. Suốt dọc lịch sử, nhân danh lương tâm, nhiều người đă tranh đấu cho nguyên tắc công bằng, cho t́nh yêu và chân lư chống lại tất cả mọi áp lực đ̣i hỏi họ phải từ bỏ xác tín của ḿnh. Các ngôn sứ đă hành động theo lương tâm khi tố cáo t́nh trạng tham nhũng và bất công của chính xứ sở của các ông. Socrate thà chết chứ không chạy trốn, khi việc trốn chạy này được coi như một thái độ hèn nhát và phản bội với lương tâm. Nếu không có lương tâm, nhân loại đă lầm đường lạc lối từ lâu rồi[1] .

Đạo đức học luôn đề cao và cổ vơ mỗi người biết hành động theo lương tâm và xác tín cá nhân. Thật vậy, lương tâm là quy tắc đạo đức cuối cùng luôn soi sáng và hướng dẫn hành vi của chúng ta. Nếu nhân loại vẫn tiến bước, bất chấp những thất bại và sự lộng hành của sức mạnh bất nhân, là nhờ những bậc vĩ nhân và những người can đảm nhân danh lương tâm dám đi ngược chiều và phản kháng những trệch hướng của thời đại. Nhưng cái đau nhức của kiếp người là lương tâm có thể sai lầm và cũng nhân danh lương tâm có những người đă gieo tang tóc cho nhân loại. Pascal viết một câu thật chua xót, mà cũng rất sáng suốt : “Chẳng khi nào người ta làm điều ác một cách chân thành và hân hoan như khi người ta làm nhân danh lương tâm !”

Thật vậy, trong lịch sử nhân lọai, nhiều người đă nhân danh lương tâm phạm đủ thứ tội ác và biện minh cho mọi h́nh thức bạo động chống lại con người. “Hạng người đă phạm những lỗi lầm nhân danh lương tâm th́ rất đa h́nh đa dạng : họ là những con người của Ṭa tra, nhân danh lương tâm đă thiêu sống những người phản kháng nhân danh lương tâm ; bọn thực dân khi áp đặt lên các dân tộc khác ách thống trị của ḿnh cũng tự cho rằng đă hành động theo lương tâm. Trên thực tế, hầu như không có một hành động dă man và tàn bạo nào đối với tha nhân hay đối với chính ḿnh mà không được biện minh nhân danh chính lương tâm. Qua những biểu lộ thật khác biết đó, lương tâm quả thật rất đa diện. Phải chăng tất cả những biểu hiện khác nhau đó của lương tâm đều có cùng một nội dung ?”

Đối diện với tính phức tạp và đa diện nói trên của lương tâm, thiết tưởng cần phải làm một phân tích tỉ mỉ và nghiêm túc hơn về ư nghĩa và những chiều kích của lương tâm. Chính v́ vậy, trước khi nói vai tṛ và sứ vụ của lương tâm trong đời sống, chúng ta cần xác định ư nghĩa của lương tâm luân lư và mối tương quan của nó với ư thức luân lư[2].


1- Khái niệm về lương tâm

Theo nguyên ngữ, hạn từ lương tâm trong ngôn ngữ của nhiều nước Tây phương (conscience, conciencia, concienza) phát xuất từ hạn từ Latinh Conscientia (= cum-scire = sapere con :biết với). Cái “biết với này” mang nhiều sắc thái, có nhiều cách và đi về nhiều hướng khác nhau. Tuy nhiên, nhiều ngôn ngữ trong thế giới hôm nay vẫn chỉ dùng một từ ngữ để diễn tả nhiều ư tưởng khác nhau được hàm chứa trong cùng một từ “lương tâm”. Ngay cả tiếng Latinh cũng chỉ dùng một hạn từ “conscientia” để chỉ hai quan niệm khác biệt như : như sự kiện “être consciente” (ư thức) và sự kiện “être responsable” (trách nhiệm) để tránh những ngộ nhận do sự nghèo nàn về ngôn ngữ gây ra, khi nói đến vấn đề lương tâm, người ta thường thêm tĩnh từ tâm lư hay luân lư.

a. Lương tâm tâm lư :

Lương tâm tâm lư có thể nói là một ư thức về phương diện tâm lư. Đây là một thứ tri thức bên trong mà chúng ta có về chính bản thân, một thứ hiện diện giữa ta với ta, một thứ ư thức về vai tṛ, hoàn cảnh, vị trí, điều kiện phức tạp của cuộc sống. Nếu sinh vật cấp thấp chỉ hiện hữu, đi đứng, ăn uống, cảm giác, sinh tồn... th́ con người không những biết ḿnh hiện hữu, cảm giác... mà c̣n biết tại sao làm như vậy và đâu là trường hợp xử thế đúng đắn trong những hoàn cảnh đó.

Ư thức tâm lư này là một việc tự ư thức hay một hành động tự phản tỉnh, trong đó con người nh́n nhận ra chính ḿnh. Đây là khả năng của một chủ thể để đảm nhận những hiện tượng tâm-sinh lư như là của chính ḿnh. Ư thức tâm lư giúp chúng ta có được nét đồng nhất của một chủ thể giữa những biến đổi và thăng trầm của cuộc đời. Trải qua bao nhiêu thăng trầm biến đổi, bao vui buồn đắp đổi và ngay cả bao nhiêu lần phải xóa bàn làm lại... nhưng tôi vẫn nh́n nhận những suy nghĩ, hành động, ước muốn, lựa chọn... đó là của chính tôi.

Một người bị ngất xỉu hay bị bệnh tâm thần chẳng hạn sẽ không c̣n khả năng suy nghĩ, không c̣n ư thức rơ rệt về vị thế và vai tṛ của ḿnh. Họ không có ư thức tâm lư. Theo nghĩa bóng, người ta cũng thường cho một người là “vô ư thức” khi họ nói năng, hành động, xử sự không phù hợp với vai tṛ, địa vị hay lứa tuổi của họ.

Lương tâm tâm lư ” hay “Ư thức tâm lư” tự nó không đồng hóa và cũng chẳng giả thiết phải có lương tâm luân lư, tuy nhiên nó t́m thấy nơi lương tâm luân lư sự triển nở tṛn đầy và viên măn. Trái lại, như chúng ta sẽ thấy, lương tâm luân lư luôn giả thiết và đ̣i hỏi một ư thức tâm lư. Có thể nói, lương tâm luân lư nối dài và kiện toàn lương tâm tâm lư.

b. Lương tâm luân lư :

Lương tâm luân lư nối tiếp và bổ túc cho ư thức tâm lư nói trên, bằng phê phán luân lư và thẩm định giá trị về những dự tính và những hành động của chúng ta. Nói cách khác, lương tâm luân lư là khả năng phân biệt và đánh giá thiện ác, tốt xấu của các hành động.

Thần học hiện đại có khuynh hướng coi lương tâm như là một khả năng đặc biệt của con người, là điểm giao thoa giữa lư trí, ư chí và t́nh cảm của con người toàn diện. Đây là trung tâm điểm của con người, một thực tại sâu thẳm và linh thiêng nhất giúp con người nhận thức được ư nghĩa, sứ vụ và định mệnh của đời ḿnh.

Có người coi lương tâm như là tầng sâu thẳm nhất, nơi con người giáp mặt với chính ḿnh và nghe tiếng gọi huyền nhiệm của Đấng Tuyệt Đối. Đó là nơi con người được mời gọi sống đích thực với chính ḿnh và đối diện với Thiên Chúa. Theo Giáo lư Công giá, “hiện diện nơi tâm hồn con người, lương tâm ra lệnh vào đúng lúc phải thực hiện điều thiện, hoặc tránh xa điều ác. Lương tâm cũng phán đoán về các lựa chọn cụ thể của ta, chuẩn y những lựa chọn tốt và lên án những lựa chọn xấu... Khi nghe theo tiếng lương tâm, người khôn ngoan có thể nghe như tiếng Chúa nói với ḿnh[3]. Chính v́ vậy, tự bản chất quan niệm lương tâm luôn chứa đựng một chiều kích tôn giáo.

Hồng Y Newman đă viết những ḍng thật sâu xa và sắc nét : “Lương tâm là một luật của tâm trí ta, nhưng lại vượt quá tâm trí ta, nó ra lệnh cho ta, nói cho ta biết đâu là  trách nhiệm và bổn phận của ta, những ǵ ta nên sợ và nên hy vọng. Nó là sứ giả của Đấng nói với chúng ta qua tấm màn, trong thế giới của tự nhiên cũng như trong thế giới của ân sủng. Đấng đó giáo huấn và cai trị ta. Lương tâm là vị đại diện số một trong tất cả các vị đại diện Chúa Kitô[4].

 Trong chiều hướng đó, chúng ta có thể định nghĩa lương tâm như một khả năng đặc biệt, nằm ở tầng sâu thẳm nhất của con người, để giúp con người nhận biết các giá trị và nghĩa vụ luân lư của ḿnh, đồng thời thúc đẩy con người can đảm chu toàn sứ vụ làm người của ḿnh. Cho nên nói đến lương tâm tức là tiếp cận, đụng chạm đến những điểm sâu thẳm và linh thiêng nhất trong mỗi người. Đây không phải chỉ là những hiểu biết có tính cách lư thuyết về các giá trị luân lư, về thiện ác, về tội phúc... mà c̣n là tiếng gọi sâu thẳm thúc đẩy con người lựa chọn những giá trị luân lư và chu toàn sứ vụ làm người của ḿnh.

Công đồng Vatican II đă xác định rơ rệt giá trị và vai tṛ của lương tâm : “Con người khám phá ra nơi lương tâm một lề luật mà chính con người không đặt ra cho ḿnh, nhưng vẫn phải tuân theo, và tiếng nói của lương tâm luôn luôn kêu gọi con người phải yêu mến và thi hành điều thiện cũng như tránh điều ác. Tiếng nói ấy âm vang đúng lúc trong tâm hồn của chính con người : Hăy làm điều này, hăy tránh điều kia. Quả thật con người có lề luật được Thiên Chúa khắc ghi trong tâm hồn. Tuân theo lề luật ấy chính là phẩm giá của con người và chính con người cũng sẽ bị xét xử theo lề luật ấy nữa. Lương tâm là tâm điểm sâu thẳm nhất và là cung thánh của con người, nơi đây con người đối diện với Thiên Chúa và tiếng nói của Ngài vang dội trong tâm hồn họ. Lương tâm làm cho con người nhận biết một cách tuyệt vời luật mến Chúa, yêu người[5].

Theo công đồng, chính v́ “nhờ lương tâm, con người nhận thức và hiểu biết những mệnh lệnh của lề luật Chúa ; họ phải trung thành tuân theo lương tâm ấy trong mọi hoạt động của ḿnh, hầu tiến tới Thiên Chúa là cùng đích. V́ vậy, không ai bị cưỡng bức hành động trái với lương tâm, cũng như không ai bị ngăn cấm không được hành động theo tiếng gọi của lương tâm, nhất là trong lĩnh vực tôn giáo. V́ việc hành đạo, tự bản chất, trước tiên ở tại những hành vi của ư chí và tự do nội tâm, hướng con người thẳng tới Thiên Chúa. Những hành vi này không thể bị một quyền bính nhân loại nào ép buộc hay ngăn cấm[6].


2- Đặc điểm và giá trị của lương tâm

Theo quan điểm luân lư, lương tâm cho ta một phê phán thực tiễn và tối hậu về giá trị luân lư của mỗi hành vi cụ thể, ra lệnh cho ta phải làm điều tốt và tránh điều xấu. Trong hầu hết các trường hợp, sự phê phán này không phải do suy tư phản tính mà mang tính cách tự phát nhiều hơn. John J. McNeill có lư để phân chia trong mỗi chỉ thị của lương tâm hai yếu tố cương yếu : “Yếu tố thứ nhất là sự phê phán và sự phê phán về giá trị luân lư của mỗi một hành vi cụ thể mà ta dự định làm hay đă làm, hoặc ta có ư bỏ hay đă bỏ. Phê phán này có thể sai v́ lương tâm có thể cho rằng hướng hành động này là đúng, trong khi khách quan mà nói đó là một hướng hành động sai, hoặc ngược lại. Yếu tố thứ hai là mệnh lệnh và nghĩa vụ truyền cho ta phải làm hay đáng lẽ ra phải làm điều ḿnh biết là tốt, hoặc phải bỏ hay đáng ra phải bỏ điều ḿnh vừa ư thức được là xấu. Đây là một mệnh lệnh và nghĩa vụ vô điều kiện. Thi hành mệnh lệnh và nghĩa vụ này không những luôn luôn là điều đúng, mà c̣n là điều bó buộc nữa.”

Một trong những đặc tính của sự phê phán này nằm ở chỗ nó không phải chỉ là một tập hợp các tiêu chuẩn luân lư đă có trước hay chỉ là một việc áp dụng máy móc các tiêu chuẩn luân lư tổng quát vào những trường hợp cụ thể, mà c̣n có thêm sự sáng tạo cá nhân. Nói khác đi, lương tâm không phải chỉ là tiếng nói của luật luân lư tự nhiên, mà trước hết là tiếng nói của một nhân vị và cho một nhân vị, để ư thức về mục đích và ư nghĩa của đời ḿnh, cũng như của thế giới. Thật vậy, tính luân lư của hành vi nhân linh không phải v́ con người rập khuôn theo luật tự nhiên hay  dân luật, mà chính là luật tự nhiên được nhân hóa và thể hiện nơi một nhân vị, mà trong thẳm sâu của ḷng họ sẽ gặp gỡ với chính ḿnh và với Thiên Chúa.

Nói cách khác, lương tâm không phải là một cơ cấu ngoại tại nào thêm vào nhân vị của con người, mà chính là trung tâm thẳm sâu và linh thiêng nhất của con người, nơi con người chân thành và sáng suốt đối diện với chính ḿnh, cũng như với tạo hóa. Lương tâm có phẩm giá cao quư như chính phẩm giá của con người. Như chúng ta thường thấy, những bậc vĩ nhân là những người can đảm sống và hành động theo tiếng gọi của lương tâm, bất chấp những cám dỗ của tiền tài, sắc dục, danh vọng hay những dọa nạt của quyền bính.

Tiếng nói của nó luôn vọng lên từ vùng sâu thẳm nhất của con người, mà hầu như không ai có thể dập tắt được. Nghe theo tiếng gọi của lương tâm, tức là thực hiện lư tưởng cao đẹp nhất của đời người, cho nên khi con người không chân thành với chính ḿnh, lương tâm sẽ mất dần phẩm giá.

Trong tập thơ nhan đề : “La Légende des siècles”, văn hào Victor Hugo đă có một bài thơ lừng danh mang tựa đề “Lương tâm”, để nói lên t́nh trạng khốn cùng của Cain, v́ bị lương tâm dày ṿ : “... Cain, không ngủ được, nằm mơ dưới chân núi. Ngẩng đầu lên, nh́n bầu trời thăm thẳm, nó thấy một con mắt, đang mở lớn trong cơi vô minh, chăm chăm nh́n nó trong bóng tối.”

“Tôi đứng gần quá” nó nói với giọng run run.

Nó lại chạy trốn. Nó đi ba mươi ngày, ba mươi đêm... và đă đến bờ biển. Con mắt vẫn theo nó. “Hăy che dấu ta đi”, nó van xin. Con cái nó mới giương một tấm màn bằng da... xây một bức tượng bằng đá... “Con mắt đă biến chưa ?- Không, nó vẫn luôn c̣n đó”. Lúc ấy nó mới nói : “Ta muốn xuống sống dưới ḷng đất... không có ǵ sẽ thấy ta nữa ; và ta sẽ không thấy ǵ nữa”.

Người ta đă đào cho nó một huyệt sâu. Rồi nó đi xuống dưới ṿm tối om đó một ḿnh, nhưng khi nó vừa ngồi lên chiếc ghế trong bóng tối, và khi người ta đậy nắp hầm lại, con mắt vẫn hiện diện ở trong huyệt và nh́n Cain”.


3- Kinh Thánh nói ǵ về lương tâm ?

Lương tâm, conscientia theo Latin hay syneidesis trong tiếng Hy Lạp, là một từ phát xuất từ văn minh Hy Lạp. Do đó, chúng ta không ngạc nhiên khi không gặp thấy hạn từ này trong Cựu Ước, ngoại trừ sách Khôn Ngoan 17, 11. Tuy nhiên, ngay từ những trang đầu tiên, Kinh Thánh đă nói đến thực tại lương tâm, đến lương tâm xấu, đến ḷng hối hận. Các tác gỉa Cựu Ước thường diễn tả lương tâm bằng các từ ngữ sau đây : ḷng trí (hay ḷng dạ) và tim (hay tâm can). Các từ này thường đi chung với nhau (Tv 26, 2 ; Gr 11,20 ; 17,10 ; 20,12). Có khi chữ tâm hay tâm can được dùng một ḿnh (St 29, 5 ; Tv 7, 10 ; 24, 4 ; Gr 17,1 ; 31,33).

Ngay từ đầu lịch sử Cứu Độ, người ta đă thấy sự kiện lương tâm lên án con người sau khi con người phạm tội, chẳng hạn trường hợp của Adam và Evà sau khi ăn trái cây bị cấm (St 3, 7-10) ; của Cain sau khi giết em (St 4, 9-14) ; Đavít bị lương tâm dày ṿ v́ đă kiểm tra dân số ngược với ư Chúa, nhất là v́ tội gian dâm và sát nhân (2 Sam 11 - 12). Trái lại, ông Gióp có thể thân thưa với Thiên Chúa rằng : “Tôi nắm giữ đức công chính, và sẽ không đánh rơi nó, ḷng tôi không hề trách cứ tôi điều ǵ” (G 27, 6). Theo Cựu Ước,  xét cho cùng, sự phê phán nói trên của lương tâm chính là tiếng nói của Thiên Chúa.

Trong Tân Ước, Đức Kitô cũng không dùng chữ lương tâm, mặc dù Ngài cảnh giác rất mănh liệt t́nh trạng lương tâm bị mù tối của người đương thời : “Nếu ánh sáng nơi anh em lại thành bóng tối, th́ tối biết chừng nào” (Mt 6, 22). Ngược lại, theo Ngài, “Nếu toàn thân anh sáng, không có phần nào tối tăm, th́ nó sẽ sáng hoàn toàn như khi đèn tỏa sáng chiếu soi anh” (Lc 11, 36). Gioan cho rằng chính ḷng chúng ta sẽ tố cáo chúng ta ( 1Ga 3, 19- 21).

Thánh Phaolô dùng từ “syneidesis”, một từ rất quen thuộc trong triết học Hy Lạp kể từ thế kỷ thứ nhất trước công nguyên và khai triển cả một giáo huấn liên quan đến lương tâm. Nơi thánh Phaolô, lương tâm thường được xác định như một “chứng nhân” không thể hối lộ, nằm ngay trong tâm khảm chúng ta và chúng ta có thể viện dẫn để xác định giá trị đích thực của ngôn từ và hành động (Rm 2, 15 ; 9, 1 ; 2 Cor 1, 12). Khi bảo phải hành động “theo lương tâm” (Rm 13, 5), thánh nhân yêu cầu các tín hữu hành động không phải v́ sợ bị phạt, mà v́ nhận thức được giá trị nội tại của luật. Đây là thái độ của con người trưởng thành.

Thiết tưởng cần lưu ư là, theo Thánh Phao-lô, không phải hễ có xác tín trong lương tâm là có thể nhắm mắt làm, không cần suy nghĩ ǵ thêm. Làm hay không làm c̣n tùy thuộc phán đoán khôn ngoan, lư do đức ái và mục vụ nữa. Chẳng hạn, trên nguyên tắc, các Kitô hữu được phép ăn mọi thứ ăn, kể cả của cúng. Tuy nhiên trong thực tế, một số người có “lương tâm yếu đuối” cho rằng không thể ăn của cúng. Do đó những người có lương tâm mạnh cân đếm kê đến t́nh trạng yếu đuối nói trên của một số anh em ḿnh, để đừng tạo nên x́ căng đan hay gương mù vô ích.

Cuối cùng, lương tâm không phải là một đặc sản của Kitô giáo. Đây là khả năng chung của nhân loại. Thánh Gioan quả quyết. “Đức Kitô soi sáng mọi người” (Gio 1, 9). Nơi người Do Thái và Kitô hữu, phán đoán của lương tâm được đức tin soi sáng và làm cho luật mạc khải nên tinh tế hơn. Nơi dân ngoại, lương tâm thay luật mạc khải và cho họ thấy rằng nội dung của luật đă được ghi khắc trong ḷng họ (Rm 2,15). Như vậy mảnh đất nhân bản đă được cày xới để đón nhận hạt giống Kitô giáo. Cho nên khi nói tới lương tâm của con người, Tin Mừng có thể đạt tới con người thật sự, nơi những ǵ chân thật, thâm sâu và linh thiêng nhất.

Trung thành với lương tâm, các kitô hữu phải liên kết với những người thành tâm thiện chí để cùng kiếm t́m chân lư và góp phần giải quyết những vấn đề của xă hội hôm nay. Ngoài ra, rất nhiều trường hợp chính những người ngoài Kitô giáo đă dạy chúng ta về ḷng trung thành, chân thực, vị tha, từ bi, tính nhẫn nại, tinh thần hy sinh, thái độ kính trọng nhân vị...


4- Phân loại lương tâm

Lương tâm xét như khả năng để phê phán giá trị luân lư của một chọn lựa hay một hành động cụ thể của mỗi người có thể nh́n dưới nhiều góc độ :

a. Lương tâm tiền và lương tâm hậu.

Gọi là lương tâm tiền, khi lương tâm đưa ra lời phê phán về giá trị luân lư của một hành vi hoặc nghĩa vụ phải làm hay phải tránh, trước khi hành vi đó được thực hiện. Lương tâm tiền sẽ ra lệnh, khuyến khích, cho phép hay ngăn cấm. Gọi là hậu, khi lương tâm thẩm định giá trị luân lư của một hành vi đă làm hay đă bỏ. Lương tâm hậu sẽ tán thành, bào chữa, khiển trách hay tố cáo.

b. Lương tâm đúng và lương tâm sai.

Lương tâm có thể đúng hay sai tùy theo sự phê phán luân lư thực tiễn phù hợp hay không với cái tiêu chuẩn luân lư khách quan. Chẳng hạn một người xác tín rằng ḿnh có thể ly dị vợ v́ sắc đẹp của nàng đă tàn phai, hoặc một tín đồ nhiệt thành chủ trương dùng những phương pháp bất khoan dung thậm chí bạo lực để phụng sự chân lư..đó là v́ có lương tâm sai.

Lương tâm sai lầm có thể thuộc loại sai lầm có thể khắc phục hoặc sai lầm không thể khắc phục. Gọi là sai lầm không thể khắc phục khi đương sự không ư thức được sự sai lầm của ḿnh, chính v́ vậy không có trách nhiệm luân lư. Trong khi đó sai lầm có thể khắc phục, nghĩa là những sai lầm có thể vượt qua với một ít thiện chí và cố gắng, th́ dĩ nhiên có trách nhiệm luân lư.

c. Lương tâm có thể chắc chắn hay hồ nghi

Lương tâm chắc chắn khi phán đoán và hành động với xác tín là điều ḿnh làm là đúng. Dĩ nhiên đây chỉ là một xác tín hay chắc chắn chủ quan của một cá nhân, chứ không có tính cách tuyệt đối. Chính v́ vậy, như chúng ta sẽ thấy sau này, có nhiều trường hợp một lương tâm chắc chắn mà vẫn sai lầm. Lương tâm hồ nghi, trái lại, là khi không chắc chắn về giá trị luân lư của một hành vi.

Nguyên tắc luân lư đ̣i hỏi phải luôn luôn nghe theo lương tâm chắc chắn khi nó ra lệnh hay cấm đoán ; c̣n khi nó cho phép làm điều ǵ, ta có thể có tự do. Lư do là v́ lương tâm là người hướng dẫn cần thiết và có thẩm quyền để giúp con người nhận ra mục tiêu và nghĩa vụ luân lư. Chỉ qua trung gian của lương tâm, con người mới biết đâu là những bổn phận, trách nhiệm và giá trị luân lư ḿnh phải tôn trọng. Do đó không nghe theo lương tâm là không nghe theo tiếng gọi sâu thẳm và những quy tắc đạo đức.

Theo nguyên tắc, chỉ được hành động khi có lương tâm chắc chắn và dĩ nhiên đây không đ̣i sự chắc chắn tuyệt đối hay toán học, mà chỉ là một thứ chắc chắn luân lư thôi. Sự chắc chắn này lại chia làm hai : chắc chắn theo nghĩa chặt, nghĩa là một thứ chắc chắn không hề pha trộn e ngại sai lầm, trong khi đó chắc chắn theo nghĩa rộng vẫn không loại trừ hoàn toàn vài e ngại nho nhỏ có thể sai lầm. Thông thường chỉ đ̣i sự chắc chắn theo nghĩa rộng là đủ để một hành vi luân lư hợp pháp.

Trong khi đó lương tâm hồ nghi không thể là tiêu chuẩn hợp lư cho một hành động luân lư. Sự trong sáng luân lư luôn đ̣i hỏi phải cố gắng giải quyết những nghi vấn trước khi hành động, v́ hành động với lương tâm hồ nghi là hành động bất chấp quy luật luân lư. Trường hợp chưa thể giải quyết được những nghi ngờ, nhưng đồng thời không thể không hành động, th́ cần theo một số chỉ dẫn cụ thể.

 Nói một cách tổng quát và đơn giản, thông thường hành động với lương tâm chắc chắn là hành động theo quy tắc luân lư. Tuy nhiên, như chúng ta đă thấy, rất có thể lương tâm chắc chắn là một lương tâm sai lầm, dù là sai lầm bất khả thắng. Chính v́ vậy, lư tưởng luân lư luôn mời gọi chúng luôn làm sao để lương tâm của chúng ta đồng thời là một lương tâm chắc chắn, đúng đắn và ngay thẳng. Chính ở nơi đây, vai tṛ của đào tạo, giáo dục hay phúc âm hóa được đặt ra một cách khẩn thiết.

d. Lương tâm ngay thẳng hay quanh co

Lương tâm chân thành là một lương tâm trong sáng, ngay thẳng với chính tiếng gọi thâm sâu của ḷng ḿnh và luôn cố gắng kiếm t́m để ngày càng trở nên ngay thẳng, tốt và trung tín hơn với sứ vụ của ḿnh, cũng như lời mời gọi của Thiên Chúa. Theo công đồng Vatican II, “Khi  lương tâm ngay thẳng càng thắng thế th́ các cá nhân và cộng đoàn càng tránh được độc đoán mù quáng và càng nỗ lực tuân phục những tiêu chuẩn khách quan của luân lư[7]. Chính ở nơi đây, lương tâm biểu lộ giá trị và phẩm giá của ḿnh.

Lương tâm quanh co hay gian xảo, là một lương tâm lươn lẹo, không trung thành với chính ḿnh, luôn t́m cách che đậy và hành động một cách thiếu ngay thẳng. Nói cho cùng, lương tâm gian xảo không c̣n phẩm giá đích thực của lương tâm, nên khi đề cập đến quyền tự do của lương tâm, thường thường người ta cũng không hiểu lương tâm theo nghĩa này. Tuy nhiên dù rằng lương tâm gian xảo đă đánh mất phẩm giá của lương  tâm, nhưng không phải v́ vậy mà con người có lương tâm gian xảo không c̣n phẩm giá và nhân vị. Do đó, chẳng ai có quyền cưỡng bức, áp chế hay không tôn trọng họ.

e. Lương tâm lúng túng, bối rối, phóng túng, pharisêu...

Nói chung, chúng ta có thể coi như những dạng thức khác nhau, hay trái ngược nhau của lương tâm sai lầm. Có lẽ tất cả vấn đề đều xoay quanh mối tương quan giữa giá trị tự do của con người và vai tṛ của luật lệ.

f. Lương tâm rập khuôn và lương tâm sáng tạo

Thông thường người ta đề cập nhiều đến việc phải cảnh giác đề pḥng lương tâm sai lầm, lương tâm phóng túng, hoài nghi, bối rối..., nhưng lại ít khi đề cập đến sự tác hại của lương tâm rập khuôn. Đây là thứ lương tâm quá “ngoan ngoăn”, dễ dạy nhưng tầm thường theo kiểu đàn cừu của Panurge. Nó có khuynh hướng đi theo “đàn”, theo đám đông, dễ lôi cuốn vào những chấp nhận vô ư thức, đôi khi vào hành động sai lạc và ngay cả tội ác.

Đối lập với loại lương tâm nói trên là ngôn sứ, lương tâm sáng tạo. Người ta gặp thấy lương tâm này ở mọi tầng lớp trong đời sống xă hội và ở mọi thời mọi nơi. Tuy nhiên, cũng phải coi đây là những trường hợp ngoại lệ của những người có nhiều chiều sâu và sức mạnh tâm linh lớn lao. Chính những lương tâm “sứ ngôn” này đă hướng dẫn và soi sáng nhân loại.

g. Lương tâm ngái ngủ

Trên xe hơi, tài xế và tay lái là một. Anh được giúp đỡ bởi các bản đồ, bảng chỉ dẫn trên đường, kính chiếu hậu. Nhưng, cuối cùng, chính anh là người quyết định. Đến ngă tư, phải tự chọn lấy hướng đi. Nếu ngông cuồng leo lên lề đường, đó là chuyện của anh ta. Anh là người điều khiến và giống như lương tâm của chiếc xe. Nhưng có những người lái xe mà ngủ gục. Cũng có người lái xe trong t́nh trạng say rượu. Và đă xảy ra những tai nạn chết người.

Cũng thế, lương tâm có thể ngái ngủ hay không kiểm soát được hành động của ḿnh. David, kẻ được Chúa chọn, người chiến thắng Goliat, đă lên ngôi vua Israel khoảng năm 1000. Ông là một anh hùng dân tộc và là một ông vua nhân ái, công bằng, được dân chúng ái mộ. Người ta cũng thường gọi ông là thánh vương David. 

Sự lựa chọn căn bản của David chắc chắn là trung thành với Thiên Chúa. Nhưng có lẽ đây là một thứ trung thành yên tĩnh và măn nguyện, không âu lo, không đề pḥng. Thế rồi, ông hoá ra nhu nhược. Ông tự tin, ông tự măn và ngủ thiếp trong sự b́nh an của ḿnh. Và, một lúc bất ngờ, khi đang ngái ngủ, ông sa ngă : không những ngoại t́nh với bà Bethsabê, mà c̣n giết luôn tướng Urya để phi tang.

“Chúa sai tiên tri Nathan đến với vua để kể cho ông nghe dụ ngôn này :

- Trong thành kia, có một người giàu và một người nghèo. Người giầu có rất nhiều chiên cừu và ḅ. C̣n người nghèo th́ chỉ có vỏn vẹn một con chiên cái nhỏ ông đă tậu được. Ông nuôi nấng nó ; nó lớn lên bên ông cùng con cái ông, nó ăn miếng bánh của ông ăn, nó uống chén nước ông uống, nó nằm bên ḷng ông ; nó không khác ǵ một đứa con gái của ông. Xảy ra có khách đến thăm ông nhà giàu, ông này tiếc của không bắt chiên của ḿnh mà đăi khách, ông lại bắt trộm con chiên của ông nhà nghèo mà làm thịt đăi khách

Đavit nổi giận bừng bừng : “Giavê hằng sống ! Người nào làm như thế th́ đáng chết”.

- Con người ấy, chính là ông”, Nathan nói với Đavít.             

Vua Đavít đă có lương tâm thiện hảo, lương tâm ngay chính, khi bàn đến việc của người khác. Lương tâm ấy càng quyết liệt hơn nữa v́ ông đă nhạo báng nó trong chính bản thân ông. Nhưng đă có lúc lương tâm ấy ngái ngủ. 


5- Trường hợp lương tâm sai lầm

Lương tâm sai lầm có quyền hay không, đó là một vấn đề tế nhị và phức tạp đă được tranh lậun rất nhiều. Xin giản lược vấn đề vào mấy điểm sau đây :

a. Lương tâm sai lầm bất khả kháng :

Như chúng ta thấy ở trên, lương tâm có thể sai lầm và không bao giờ vô ngộ. Dĩ nhiên, chuyện sai lầm này ít khi liên quan đến các nguyên lư phổ quát như “phải làm lành, lánh dữ”, mà thường xảy ra khi phải áp dụng vào các trường hợp cụ thể như khi xác quyết : cái này tốt, cái kia xấu. Thông điệp Vừng Hồng chân lư công nhận rằng “các phán đoán của lương tâm luôn có nguy cơ sai lầm. Lương tâm không đưa ra một phán đoán vô ngộ : lương tâm có thể sai lầm.[8] Tuy nhiên, một lương tâm sai lầm một cách bất khả kháng không mất phẩm giá và tính bắt buộc. Do đó, lương tâm sai lầm một cách bất khả kháng vẫn là tiêu chuẩn gần cho hành động luân lư.

Quan điểm này được thánh Phaolô đề cập trong thư gửi tín hữu Roma (14, 1-23) và được giáo quyền cũng như các thần học gia khai triển. Công đồng Vatican II chẳng hạn đă xác nhận :“Lương tâm nhiều khi lầm lạc v́ vô tri bất khả thắng, nhưng cũng không v́ thế mà mất phẩm giá.[9].

Giáo huấn của thánh Tôma về vấn đề này được coi là rơ ràng nhất. Theo thánh nhân, một hành vi khách quan là xấu, nhưng nếu chủ thể do sai lầm bất khả kháng vẫn nghĩ là tốt, nên đă làm, trong trường hợp đó, chủ quan mà nói không bị quy trách. Nói cách khác, hành động theo lương tâm sai lầm bất khả kháng không bị quy trách luân lư v́ lương tâm này vẫn duy tŕ tính bắt buộc. Do đó những ai hành động ngược với lương tâm sai lầm này là hành động sai. Chẳng hạn, nếu ai do lương tâm sai lầm bất khả kháng nghĩ rằng để được cứu rỗi phải thực hiện một số hành vi mà xét theo mặt khách quan là xấu, như ăn trộm hay tà dâm, th́ cũng không được hành động ngược lại lương tâm sai lầm đó. Nói tóm lại, luôn luôn phải hành động theo lương tâm ngay cả trong trường hợp đó là lương tâm sai lầm bất khả kháng.

Tuy nhiên, thánh Tôma nói thêm là lương tâm sai lầm và lương tâm đúng đắn không nằm trên một mức độ và không có tính bắt buộc như nhau. Lương tâm đúng đắn bó buộc một cách tuyệt đối, xét về phương tiện chủ quan cũng như khách quan ; trong khi lương tâm sai lầm bất khả kháng chỉ bắt buộc một cách chủ quan v́ sự lầm lẫn của chủ thể, nên do đó sự bó buộc này chỉ có tính tương đối thôi. “Lương tâm đúng đắn bó buộc một cách tuyện đối và trong mọi hoàn cảnh... Trái lại lương tâm sai lầm chỉ bó buộc một cách tương đối và với điều kiện[10]

Theo thông điệp “Vầng hồng chân lư”, việc chấp nhận giá trị của lương tâm sai lầm nói trên không có nghĩa là có thể “đồng hóa một sai lầm chủ quan về điều thiện luân lư với một chân lư khách quan..., và cũng chẳng cho bằng nhau về mặt giá trị luân lư giữa một hành vi thực hiện do lương tâm đúng đắn và ngay thẳng với hành vi thực hiện do phán đoán của lương tâm sai lầm. Sự dữ đă phạm do sai lầm bất khả kháng hay do một phán đoán sai lầm không bị quy trách, không bị quy trách cho người đă thực hiện nó, nhưng trong trường hợp đó sự dữ này vẫn là một điều xấu, một sự rối loạn trật tự trong tương quan đối với giá trị đích thực của sự thiện[11]. Chính v́ vậy, lư tưởng luân lư đ̣i hỏi sự cần thiết của sự đào tạo lương tâm cho đúng đắn và ngay thẳng.

b.  Lương tâm sai lầm khả kháng

Trong viễn tượng đó, vấn đề sẽ hoàn toàn khác khi lương tâm sai lầm nói đây thuộc loại khả kháng. Thực vậy, sai lầm khả kháng luôn là một sai lầm có trách nhiệm. chính v́ vậy, không thể làm theo sự chỉ dẫn của lương tâm sai lầm khả kháng. Thông thường ta gọi là sai lầm khả kháng khi chủ thể hồ nghi về tính cách hợp pháp hay chính đáng của sự kiện hay hành vi sắp làm. Nói cách khác, chủ thể đă phần nào cảm thấy bất ổn trong hành vi của ḿnh và có khả năng để vượt qua hồ nghi đó, nhờ những thông tin chính xác hơn.

Trên nguyên tắc không thể hành động với lương tâm sai lầm khả kháng, bởi v́ như chúng ta đă nói, lương tâm sai lầm này không bao giờ là tiêu chuẩn luân lư hợp lư. Hành động với một lương tâm sai lầm như thế là hành động liều lĩnh và trái nguyên tắc luân lư. Theo Bernard Hăring, “Nếu phán đoán thực hành cuối cùng là lương tâm sai lầm có quy trách, con người sẽ lỗi phạm cả trong trường hợp hành động theo hay chống lại lương tâm này.”[12] Do đó giải pháp duy nhất c̣n lại là phải giải quyết t́nh trạng sai lầm đó trước khi hành động.


6- Trường hợp lương tâm hoài nghi

Lương tâm hoài nghi là lương tâm đang ở trong t́nh trạng không chắc chắn là hành vi của ḿnh có hợp pháp và có bắt buộc phải làm hay không. Nhiều khi mặc dù đă đ́nh chỉ hành động hay đă có vẻ nghiêng theo một phía rồi, nhưng đương sự vẫn hồ nghi và sợ rằng giải pháp ngược lại có thể đúng hơn.

Hồ nghi nói trên có nhiều loại. Có thể hồ nghi về sự hiện hữu của một luật hay một nguyên tắc luân lư, hoặc hồ nghi về một sự kiện. Người ta cũng thường phân biệt hồ nghi trên lư thuyết và hồ nghi trong thực tế. Loại thứ nhất liên quan đến sự thật của một quan điểm luân lư trên b́nh diện lư thuyết, chẳng hạn giết một nhà độc tài để bảo vệ công ích có phải là điều hợp pháp hay không ? Loại thứ hai liên quan đến tính hợp pháp của một hành vi cụ thể phải làm ngay lúc này và ở đây,  chẳng hạn giết nhà độc tài A trong lúc này có hợp pháp không ?

Theo nguyên tắc căn bản, khi có hồ nghi thực tiễn về tính hợp pháp của một hành vi cụ thể th́ không bao giờ nên hành động. Lư do giản dị là hành động với lương tâm hồ nghi, chúng ta có nguy cơ phạm tội và đi ngược đ̣i hỏi căn bản của nguyên tắc luân lư. Chẳng hạn khi đi săn mà hồ nghi không biết mục tiêu ḿnh đang nhắm là con thú hay con người, nếu như vậy mà cứ bắn... th́ đă có tội giết người, dù rằng sau đó khám phá ra rằng đó chỉ là một con mồi.

Trường hợp hồ nghi, chúng ta phải hành động theo những quy luật sau đây : phải đ́nh chỉ hành động cho đến lúc hết hồ nghi. Đương sự phải nỗ lực để có được sự chắc chắn cần thiết, nhiều hay ít tùy theo vai tṛ và tầm quan trọng của vấn đề. Sự chắc chắn thực tiễn này có thể đạt được một cách trực tiếp nhờ đă hết nghi ngờ sau khi suy nghĩ và t́m hiểu vấn đề, sau khi tham khảo các nhà chuyên môn và các tài liệu liên hệ.

Nếu như vậy mà vẫn chưa loại bỏ được hồ nghi, ta có thể tạm áp dụng các nguyên tắc sau, ngơ hầu có một sự chắc chắn thực tiễn gián tiếp. Điểm cốt yếu của nguyên tắc này là khi nghi ngờ ta phải đứng về phía được giả định. Giả định là sự ức đoán về một giải pháp, trong đó có nhiều khả năng đúng hơn và ít khả năng bất công hơn. Những nguyên tắc này dĩ nhiên không giải quyết được những nghi ngờ về sự hiện hữu của một luật, một quyền hạn hay một sự kiện, tuy nhiên giúp ta có sự chắc chắn về những ǵ ḿnh có thể làm hay phải làm lúc này, bây giờ và ở đây :

(1)  Khi nghi ngờ, ai đang sở hữu có ưu thế hơn, cho đến khi chứng minh ngược lại.

(2)  Khi nghi ngơ, phải ưu tiên cho bên bị cáo, không thê chỉ giả định mà phải chứng minh rơ rệt mới có thể kết tội được.

(3)  Khi nghi ngờ, phía bề trên thường được giả định có ưu thế hơn.

(4)  Khi nghi ngờ, được quyền giải thích rộng điều có lợi và cắt nghĩa hẹp điều bất lợi.

(5)  Khi nghi ngờ, phải ưu tiên cho những ǵ thường xảy ra theo thói quen và theo kinh nghiệm.

(6)  Luật bị nghi ngờ th́ không bị ràng buộc, nghĩa là phải giả định ta được tự do với luật đó. Dĩ nhiên chỉ áp dụng trong trường hợp có nghi ngờ chung, nghĩa là khi luật bị chính các nhà chuyên môn nghi ngờ.

(7)  Khi nghi ngờ, nhưng không thể không hành động th́ phải chọn bên nào an toàn hơn và phải đặt ưu tiên cho những ǵ quan trọng hơn : những ǵ liên hệ đến sự cứu rỗi, sự sống, thanh danh...

(8)  Nếu nghi ngờ không biết phải chọn lựa hành động nào giữa hai hành động xem ra xấu, th́ phải chọn hành động ít xấu hơn.

(9)  Trong trường hợp có sự giằng co giữa hai bổn phận, chọn cái nào ḿnh cho là quan trọng hơn.


7- Vấn đề giáo dục lương tâm

a.   Theo công đồng Vatican II “Phẩm giá của con người đ̣i hỏi họ phải hành động theo sự chọn lựa ư thức và tự do, nghĩa là con người được thúc đẩy và hướng dẫn do xác tín cá nhân, chứ không phải do bản năng mù quáng hay áp lực tự bên ngoài. Con người sẽ đạt tới phẩm giá ấy một khi nhờ tự giải thoát mọi kiềm tỏa của đam mê, con người theo đuổi cùng đích của ḿnh trong sự tự do chọn lấy điều thiện và khôn khéo thực sự chọn cho ḿnh những phương tiện thích ứng.”[13]

Cái nhức nhối và khó khăn là lương tâm có thể mê ngủ, rập khuôn và nhất là sai lầm, nghĩa là có khả năng đưa ra những phán đoán sai lầm. Ngoài ra, trong thực tại cuộc sống, nhiều người hầu như không c̣n khả năng nhận thức được tiếng nói của lương tâm.

Phải chăng thế giá của lương tâm bị đặt lại vấn đề do sự kiện là trong nhiều người, tiếng nói của lương tâm quá yếu ớt đến độ không c̣n nghe thấy hay đi theo ? Trên thực tế, hiện tượng này nói lên t́nh trạng yếu kém về luân lư của nhân loại. Nếu lương tâm luôn luôn nói một cách rơ ràng và minh bạch, tại sao có rất ít người t́m thấy mục đích của luân lư ?

 Theo Erich Fromm, “câu trả lời có thể t́m thấy trong chính bản chất của lương tâm : bởi v́ hành động của lương tâm nhằm giúp con người thực hiện chính ḿnh, điều đó chỉ có thể có được khi con người không đánh mất chính ḿnh và không trở thành vong thân (…). Một câu trả lời khác cho hiện tượng tương đối không hữu hiệu của lương tâm nằm ở chỗ chúng ta từ chối nghe theo tiếng nói của lương tâm hay chúng ta không biết cách nghe. Có những lần chúng ta nghĩ rằng lương tâm phải nói to tiếng và sứ điệp của nó phải rơ rệt và thật khác biệt… Nhưng khi tiếng nói của lương tâm chỉ thỏ thẻ, nhỏ nhẹ, ra như ta không thèm để ư tới. Ngoài ra cũng cần biết cách nghe và hiểu tiếng nói của lương tâm ngơ hầu có thể hành động theo… để có thể nghe tiếng nói của lương tâm, chúng ta phải có khả năng nghe tiếng sâu thẳm ở nơi ta. Chúng ta hầu như nghe mọi thứ tiếng, ngoại trừ nghe chính ḿnh… Trên thực tế, chúng ta có thói quen sợ ở một ḿnh và đối diện với chính ḿnh. Chúng ta ham vui, thích bạn bè ồn ào, khoái sinh hoạt, ngay cả những hoạt động vô bổ nhất, hơn là sống một ḿnh và đối diện với chính ta”[14].

Chính v́ vậy, vai tṛ giáo dục lương tâm được đặt ra một cách khẩn thiết. Trong việc huấn luyện lương tâm, trước hết đ̣i hỏi phải có một sự huấn luyện trí thức căn bản để biết những nguyên tắc căn bản về luân lư và giáo huấn của Tin Mừng. Thứ đến phải tạo cho ḿnh một thói quen biết nhạy cảm trước những giá trị luân lư và luôn luôn chăm chú kiếm t́m thánh ư của Thiên Chúa. Thánh Phaolô nhắn nhủ : “Anh đừng có rập theo đời này, nhưng hăy biến cải con người anh em bằng cách đổi mới tâm thần, hầu có thể nhận ra đâu là thánh ư của Thiên Chúa : cái ǵ là tốt, cái ǵ đẹp ḷng Chúa, cái ǵ hoàn hảo” (Rm 12, 2). “Điều tôi khẩn khoản nài xin là cho ḷng mến của anh em ngày thêm dồi dào và khiến anh em được ơn hiểu biết và tài trực giác siêu nhiên, để nhận ra cái ǵ là tốt hơn” (Pl 1, 9-10). Cuối cùng, để có thể lắng nghe tiếng nói của lương tâm cũng phải cầu nguyện và có thái độ phản tỉnh, trầm tĩnh, biết đối diện với chính ḿnh

b.  Trong vấn đề đào tạo lương tâm, người ta thường phân biệt lương tâm c̣n đang phát triển ở thời thơ ấu, mà có người gọi là lương tâm phải làm, với giai đoạn trưởng thành, có thể gọi là lương tâm nên làm.

Theo quan điểm của nhiều tâm lư gia, “lương tâm phải làm” phát sinh từ những mệnh lệnh, cấm đoán hay chỉ dẫn của cha mẹ, hay thầy cô giáo. Dĩ nhiên đứa trẻ thi hành những điêu đó v́ sợ hay v́ không muốn làm phiền ḷng cha mẹ, chứ thực sự chưa hiểu rơ tại sao phải làm thế này hay thế nọ. Dù ban đầu nó đặt ḿnh dưới sự hiểu biết của cha mẹ, nhưng với thời gian nó “nội tâm hóa” dần dần tiếng nói của quyền bính bên ngoài đó để tuân theo mệnh lệnh của cha mẹ hay thầy cô, ngay cả khi họ vắng mặt. Các nhà tâm lư học hiện đại lưu ư nhiều tới vai tṛ của quy luật bắt chước và tự động hóa trong quá tŕnh h́nh thành các mẫu giá trị và các lư tưởng nơi trẻ em. Cho nên song song với những mệnh lệnh, người lớn cần làm gương sáng và tŕnh bày những mẫu luân lư lư tưởng. Bao lâu những quy luật và kiểu mẫu lư tưởng này phù hợp với bản tính thật của đứa trẻ, chúng sẽ góp phần tạo nên lương tâm đích thực của đứa trẻ.

Tuy nhiên, khi đứa trẻ đă lớn lên và tiến tới tuổi trưởng thành, lương tâm phải làm cần nhường chỗ cho lương tâm nên làm. Lương tâm này không chủ yếu xây dựng trên việc sợ h́nh phạt hay muốn bắt chước một cách hời hợt, mà trên xác tín về những giá trị nội tại của các đ̣i hỏi luân lư. Trọng tâm chuyển từ chỗ bắt chước hay chịu sự kiểm soát của người lớn hoặc xă hội, sang việc thi hành trách nhiệm với ư thức cá nhân. Dĩ nhiên trong giai đoạn trưởng thành cũng c̣n rất nhiều điều thuộc loại “phải làm”, nhưng con người đă ư thức được giá trị của bổn phận và trách nhiệm này. Họ cố gắng nhận ra trong luật lệ những đ̣i buộc mà con người phải chu toàn để thực hiện sứ vụ làm người ở đời của ḿnh. Ngay cả khi nhận thấy trong các luật lệ đó có một số khuyết điểm mà họ cần phải đưa ra một số sửa chữa, họ cũng không chủ trương hay chống đối loại trừ mọi luật lệ. Một số lương tâm trưởng thành đă có đủ nội lực thiêng liêng đến độ không c̣n cảm thấy sự cần thiết của luật lệ cưỡng chế bên ngoài.

Người thực hiện tốt tiến tŕnh này là người có một nhân cách tốt, với khả năng hội nhập các giới luật và giá trị thâu lượm thành những thái độ nội tâm và xác tín của riêng ḿnh. Đời sống tôn giáo và luân lư sẽ phát xuất từ tâm hồn và nhân cách của họ. Tương quan giữa họ với tha nhân cũng không bị tắc nghẽn do những áp dụng quá máy móc và giáo điều các luật lệ.

c. Trong giáo huấn luân lư công giáo trước đây, người ta thường nhấn mạnh quá đáng đến luật pháp, nghĩa là về những giới răn và những lệnh cấm do hàng giáo phẩm ban bố. Cộng đoàn dân Chúa thường được coi như đàn chiên cần được chăn dắt. Trong viễn tượng đó, bổn phận của người bề dưới có lẽ chỉ là t́m hiểu con đường đă được các bề trên vạch sẵn, rồi cứ thế mà bước đi và truyền dạy cho đàn em. Lương tâm cá nhân hầu như cũng không có tiếng nói : bổn phận lớn lao nhất của nó là học cho kỹ những ǵ được phép làm và những ǵ cấm làm. Ra như người ta cố gắng dạy làm sao biết tôn trọng luật pháp hơn là biết tra vấn và trung thành với lương tâm. Không có vấn đề cho phép một lương tâm được tự do thảo luận, có thể hoài nghi về những con đường ṃn đă đi và mạo hiểm khai mở những con đường khác với tất cả ư thức trách nhiệm và sự trong sáng của lương tâm.

Lịch sử đă và đang sang trang ! Một số tín hữu hôm nay dám nhân danh lương tâm để biện minh cho một số thái độ sống không phù hợp với luân lư cổ truyền và chính thức. Dĩ nhiên chúng ta không thể coi thường và phủ nhận luật lệ, tuy nhiên, đứng về phương diện tâm linh đạo đức, luật trên các luật vẫn nằm sâu nơi tâm khảm con người, ở lương tâm : “Tận đáy ḷng của ḿnh, con người khám phá ra một lề luật mà chính con người không tự đặt ra cho ḿnh, nhưng vẫn phải tuân theo... đó là lề luật được Chúa khắc ghi trong tâm hồn con người. Phẩm giá con người chính là tuân giữ lề luật ấy sẽ xét xử con người[15]

Con người sống ở đời luôn cần luật lệ, cũng như cần có cọc đỡ cho cây non để nó có thể mọc thẳng. Tuy nhiên, những lề luật đó cần được nội tâm hóa và nhân cách hóa, để trở thành bộ xương cứng rắn. Nếu như chỉ có những người có xương mới là những người lành mạnh, th́ cũng chỉ có những người có lương tâm trưởng thành mới là người Kitô hữu đích thực.

d.  Cuối cùng, xă hội Việt Nam thời mở cửa này đang đặt ra cho lương tâm mỗi người nhiều vấn đề cam go khác như nạn phá thái, nạo thai, tệ tham nhũng, cắt xén của công, rút ruột các công tŕnh xây dựng, cá độ bóng đá, dạy thêm, sự phá sản của nền giáo dục, v.v. Báo chí và những người tâm huyết vẫn thường xuyên đề cập đến vấn đề này và chúng tôi hy vọng sẽ có dịp thảo luận về những vấn đề đó. Ở đây, chỉ xin trích dẫn một thí dụ nhỏ : “Chuyện anh em nhà hàng xóm” trong mục “Chuyện thường ngày” của ông Bút Bi :

“Hồi sáng có hai thanh niên mặc đồ bảo hộ lao động đến gạ bán mấy cái kềm chuyên dụng. Chắc họ trong nhóm thợ đang làm công tŕnh ǵ đó ngoài ngơ. Chôm công cụ lao động đi bán, thật hết biết!

- Sao em không báo cho người phụ trách của họ.

- Mới đầu em cũng nghĩ vậy, nhưng nghĩ lại thôi. Lương thấp lè tè, dăi nắng dầm mưa, mấy món đồ họ lấy có đáng là bao so với những vụ rút ruột công tŕnh bạc tỉ của mấy xếp họ !

- Chuyện mấy sếp đă có người khác lo. C̣n ḿnh thấy tiêu cực trước mắt th́ phải thực hiện nghĩa vụ công dân chứ !

- Em thấy “trên” có nghiêm th́ mới dạy “dưới” được. Chừng nào mấy sếp quản lư công tŕnh trong sạch th́ mới đ̣i hỏi công nhân của họ không ăn cắp.

- Đă là ăn cắp th́ lớn, nhỏ ǵ cũng phải xử hết, chứ không thể xử mà c̣n “ra điều kiện” như  em. Nếu không c̣n ǵ là tài sản nhà nước”[16].


 

[1] E. Fromm, Dalla parte dell’uomo, Roma, 1971, tr. 111

[2] Vấn đề này, xin xem Ph. Delhaye, La conscience morale du Chrétien, Tournai- Paris, 1964 ; A. Molinaro – A. Valsecchi, La coscienza, Bologna, 1971 ; W.C.Bier (ed), Conscience : Its Freedom and Limitations, New York, Fordham Univ.Press, 1971 ; B.Haering, Free and Faithful in Christ, vol. 1, 1978 ; Karl H.Peschke, Christian Ethics, vol 1, “General Moral Theology”, Dublin, 1986 ; Rey-Mermet, Nhăn quan mới về luân lư, California, 1992 ; Initiation à la practique de la théologie, t.IV, Ethique, Paris, 1984.

[3] Sách giáo lư Giáo Hội Công Giáo, t.2 California, Hoa Kỳ, 1995, số 1777

[4] Newman, Thư gửi quận công Norfork, 5 ; Vatican II, Giáo Hội trong thế giới hôm nay, số 16

[5] Vatican II, Giáo Hội trong thế giới hôm nay, số 16

[6] Vatican II tự do tôn giáo số 3

Xem Giáo Hội trong thế giới hôm nay số 61

[7] Vatican II, Giáo Hội trong thế giới hôm nay, số 16

[8] Gioan Phaolô II, Veritatis Splendor 62

[9] Vatican II, Giáo Hội trong thế giới hôm nay số 16

[10]  Thánh Tôma, De Ver, q.17,a,4

[11]  Veritatis splendor, 63

[12]  Hăring, La ley de Cristo, vol.1, Barcelona, 1968, tr. 214

[13]  Vatican II, Giáo Hội trong thế giới hôm nay số 17

[14]  Erich Fromm, sách đă dẫn, tr. 123-124

[15]  Vatican II Giáo Hội trong thế giới hôn nay số 16

[16]  Báo Tuổi Trẻ,  ngày 9-11-2002.