| |
Phụ
Trương
Karol Vojtyla
vỚi tác phẨm
ĐẠo đỨc hỌc sơ yẾu
Phạm Vĩnh Cư
Cách đấy hơn bốn thập kỉ,
vào cuối 1957 - đầu 1958, trên một tờ báo địa phương của Ba Lan, tuần
báo Tygodnik powszechny, cơ quan ngôn luận của Hội trí thức công giáo
thành phố Kraków, cố đô của nước này, đă xuất hiện một loạt bài viết
ngắn gọn dưới tiêu đề chung Đạo đức học sơ yếu. Những bài báo ấy đă
khiến công luận bắt đầu để ư đến tác giả của chúng - Karol Vojtyla, một
linh mục xuất thân từ giai cấp thợ thuyền, c̣n khá trẻ (sinh năm 1920)
hưng đă có bằng tiến sĩ thần học, kết hợp phận sự mục sư với nhiều hoạt
động đa dạng : nghiên cứu khoa học, viết báo, sáng tác kịch, thơ, giảng
dạy thần học và đạo đức học ở các trường đại học tổng hợp Kraków và
Lublin. Thiên khảo luận về những nguyên lí đạo đức học được in trên báo
rơ ràng gắn bó mật thiết với những bài giảng của vị giáo sĩ này ở các
giảng đường đại học. Cùng với hai tác phẩm khác, xuất hiện muộn hơn vài
năm và cũng mang nội dung đạo đức học : chuyên luận T́nh yêu và trách
nhiệm và kịch Cửa hiệu của người thợ kim hoàn, nó đánh dấu giai đoạn
khởi phát của một sự nghiệp hai thập niên sau sẽ trở nên hiển hách.
Từ giữa những năm 60,
hoạt động của cha Karol Vojtyla vươn tới quy mô quốc gia và quốc tế. Uy
tín ngày một to lớn của ông trong thế giới Kitô giáo cuối cùng đă dẫn
đến việc ngày 16 tháng 10 năm 1978 tại Roma ông được bầu làm người lănh
đạo tối cao của Giáo hội Công giáo toàn thế giới, mà ngày nay ai ai trên
hành tinh chúng ta cũng biết dưới tên đức Giáo hoàng Jean Paul đệ Nhị.
Hơn tất cả nững người tiền nhiệm của ḿnh có mặt trong đời sống của loài
người hiện đại, Jean Paul II từ ngày lên ngôi đă công bố rất nhiều tác
phẩm mới về rất nhiều đề tài khác nhau và dưới nhiều h́nh thức khác
nhau : những thông cáo (encyclique) và thông điệp, những diễn văn và
những bài thuyết giáo, những sách viết riêng và viết chung. Được quảng
bá và tuyên truyền bởi tất cả các phương tiện thông tin đại chúng hiện
đại, chúng tuy nhiên vẫn không che khuất những sáng tác thời hàn vi của
vị giáo chủ này. Ngược lại, nững sáng tác ấy càng ngày càng được dịch ra
nhiều thứ tiếng, thu hút sự quan tâm không chỉ của giới nghiên cứu, mà
c̣n của cả dư luận quốc tế rộng răi t́m thấy ở chúng nhiều hạt giống tư
tưởng nay đă trở thành những phương châm hoạt động của Giáo hội Thiên
chúa giáo - một tổ chức tôn giáo hùng mạnh có một không hai trong thế
giới ngày nay.
Đạo đức học sơ yếu thuộc
về những tác phẩm như thế. Một ưu điểm lớn, rất dễ nhận ra của nó là sự
ứng hợp gần như lí tưởng của cái tên công tŕnh với bản thân công trnh.
Đây đúng là một cuốn sách nhỏ tŕnh bày một cách dễ hiểu những vấn đề
cốt yếu của đạo đức học Kitô giáo. Tiêu chí phổ thông được tuân thủ
nghiêm ngặt ở đây tuy vậy không hề cản trở bề sâu và sự phong phú của
nội dung. Tuyệt không phô trương kiến thức, tác giả bằng cách tŕnh bày
và giải quyết những vấn đề đặt ra cho thấy sự am tường của ḿnh về toàn
bộ kho tàng tư tưởng đạo đức học của châu Âu từ cổ đại cho đến ngày nay.
Một đặc điểm khác, cũng gây thiện cảm nơi người đọc là tinh thần cởi mở
ḥa nhă th hiện ở ngay hành văn của tác giả : ông như mời tất cả mọi
người ở trong và ngoài đạo Kitô tham gia cuộc hội thoại về những cơ sở
của đạo đức học con người, trong đó có đạo đức học tôn giáo, với niềm
tin rằng các bên đối thoại một cách thành tâm sẽ t́m ra được không ít
điểm chung hoặc gần gũi nhau. Nhưng dĩ nhiên tác giả không dừng lại ở
đấy. Bằng toàn bộ hệ thống lập luận và chứng minh của ḿnh ông cố gắng
thuyết phục những người suy nghĩ khác ông tiếp nhận lập trường quan điểm
của ông. Ông có làm được điề ấy hay không, hăy để cho từng độc giả không
có thành kiến và yêu chuộng công bằng phán xét. Sở dĩ chúng tôi nói đến
sự công bằng là v́ đạo Kitô, nhất là Giáo hội Công giáo, vừa đ̣i hỏi vừa
cần đến một thái độ như thế đối với nó. Nếu thiếu công bằng cộng với
thiếu hiểu biết th́ những người không theo đạo này, mỗi khi nói đến nó,
dễ chỉ nhắc đi nhắc lại một số lỗi lầm lịch sử của nó, mà chính nó đă
công khai thừa nhận và chối bỏ, và theo những định kiến hẹp ḥi và cũ kĩ
sẽ tiếp tục nh́n thấy ở nó chỉ một tà dư đáng bực ḿnh của #đêm trường
trung cổ #.
Mặc dù đạo Kitô đă có xấp
xỉ hai ngàn năm lịch sử, nhưng nhiều tín đồ của nó quan niệm không sai
rằng thực ra ngày nay nó mới bắt đầu. Quả thật, chỉ trong các xă hội
hiện đại, nơi mà không một tôn giáo hay giáo phái nào được chiếm địa vị
độc tôn và quyền tự do tín ngưỡng của con người được pháp luật bảo đảm,
đạo Kitô mới có điều kiện thực sự chứng tỏ năng lực thu phục nhân tâm
của ḿnh và b́nh đẳng với tất cả các tôn giáo khác, nó mới thực sự có
quyền phát iểu không chỉ nhân danh bản thân, mà c̣n nhân danh tất cả các
tôn giáo lớn của nhân loại. Tác giả Đạo đức học sơ yếu làm chính việc
ấy. Trong thiên khảo luận của ḿnh, ông vừa xác định những đặc điểm phân
biệt của đạo đức học Kitô giáo dựa vào Thần khải, vừa nhấn mạnh quan hệ
máu thịt của nó với đạo lí chung, “tự nhiên” của loài người được thể
hiện trong nhiều xă hội và nhiều nền văn hóa không biết đến Thần khải.
Quan hệ giữa đạo đức và tôn giáo - vấn đề mấu chốt của tác phẩm liên
quan đến cuộc đấu tranh nàn đời và có lẽ sẽ chẳng bao giờ chấm dứt giữa
tôn giáo với chủ nghĩa vô thần - được giải quyết theo một chiều hướng
rất xác định, trùng khớp với tín ngưỡng của tác giả, nhưng ông biết làm
điều ấy với một nhă độ đáng nể trọng, không những không xúc phạm, mà xem
ra c̣n có sức cảm hóa những người không suy nghĩ như ông.
Những trang cuối của
thiên khảo luận gây ấn tượng mạnh. Tranh luận với các nhà vô thần chủ
trương xây dựng một nền đạo đức học độc lập triệt để đối với mọi tôn
giáo - nhiều trí tuệ lớn của ḷi người trong ba thế kỉ qua đă cống hiến
nhiều công sức cho việc thực hiện chủ trương ấy, tên họ được nhắc đến
trong tác phẩm : Hobbes, Hume, Rousseau, Kant... - tác giả lập luận : để
xây dựng một cương lĩnh đạo đức học độc lập, trước hết cần phải chứng
minh được rằng con người là một bản thể độc lập. Nếu không làm được điều
đó, th́ phải chăng sẽ là tốt hơn nếu chúng ta, theo minh triết ngàn đời
của loài người, thành tâm thừa nhận sự tồn tại của một bản thể cao hơn
chúng ta được gọi là Thượng Đế ? Tôn kính Thợng Đế đă cho chúng ta sự
sống, bản tính hữu luân, trí khôn và linh hồn bất tử, loài người chỉ thi
hành một lẽ công bằng sơ đẳng, sự tôn kính ấy do đó trở thành một nhiệm
vụ của đạo đức tự nhiên. “Không phải tôn giáo từ khởi thủy mang trong
ḿnh đạo đức, mà đạo đức mang trong ḿnh tôn giáo như một biểu hiện sơ
đẳng của lẽ công bằng”. Đạo đức học tôn giáo v́ thế mà “trong mọi trường
hợp giàu sang hơn đạo đức học độc lập bởi một đức công bằng”. Một lối
lập luận xem ra có t́nh có lí mà tâm trí con người b́nh hường dễ chấp
nhận.
Cũng như bản chất tự
nhiên của con người, cái lí trí lành mạnh thông thường của nó trong khảo
luận được hết sức coi trọng và đề cao. Lí trí được xem là “năng lượng
chủ yếu” và “chủ nhân của sinh linh con người”. Nó có năng lực nhận thức
chân lí, xác định đúng đắn những nguyên tắc hành xử của con người. Cả
những chân lí Thần khải mà lí trí tự nó sẽ không nhận thức được (thí dụ,
lời khuyên răn của Kitô về t́nh thương yêu đối với kẻ thù) cũng không
mâu thuẫn với nó. Không một tiêu chuẩ đạo đức tôn giáo nào có thể mâu
thuẫn với lí trí và bản tính con người (các tiểu mục II, III). Nhà thần
học cũng theo Kitô giáo, nhưng thuộc phái Tin Lành, sẽ không suy luận
một cách thuận chiều như thế, anh ta sẽ hết sức nhấn mạnh cái vực thẳm
không thể vượt qua giữa bản tính và trí tuệ của Thánh thần với bản tính
và trí tuệ con người, với tất cả các hệ quả phát sinh từ đấy. Nhưng tác
giả Đạo đức học sơ yếu suy tư theo truyền thống thần học Công giáo : ông
nói về Thiên ân thần thiêng hóa mở rộng cho mọi snh linh và về lí trí
được khai sáng bởi đức tin. Song tính quảng đại phổ biến ấy của Thiên
ân, như ông tŕnh bày, không hề hạ thấp những đ̣i hỏi của Thánh thần đối
với con người và không xóa nḥa ranh giới giữa đạo đức học tôn giáo và
đạo đức học thế tục. Hăy lấy một vài ví dụ làm minh họa.
Ở tiểu mục IV Chủ nghĩa
hiện thực trong đạo đức học, tranh luận với học thuyết đạo đức hà khắc
và thoát li thực tế của Kant, tác giả đề ra một nguyên tắc tưởng chừng
rất thực dụng : dù bạn có làm ǵ, hăy cố gằng thích hợp với thực tại
khách quan. Thế nhưng thực tại khách quan ấy hóa ra không chỉ là cái
được nhận biết bằng các giác quan và bằng lí trí thông thường, mà c̣n là
cái được nhận chân bằng lí trí được khai sáng bởi đức tin và nhờ Thần
khải. “Được hấp thụ Thần khải, con người biết được về sự tồn tại của
những phúc lợi siêu tự nhiên, và do đó toàn bộ trật tự tôn ti của những
phúc lợi mà trước đây chỉ một ḿnh lí triết biết đến, bây giờ thu nhận
được những tỉ lệ khác”. Con người ấy sẽ có một thái độ khác đối với sự
thnh đạt hay khổ đau trong cuộc đời so với người không tin đạo. Sự khác
biệt giữa đạo đức tôn giáo và đạo đức thế tục được chỉ ra ở đây rất rơ.
Đức tin không chỉ mở mắt cho con người, mà c̣n buộc nó hành xử một cách
tương ứng. Một thí dụ khác. Không một học thuyết nào về đạo đức có thể
bỏ qua vấn đề hạnh phúc con người. Con người khao khát hạnh phúc, đấy là
nguyện vọng tự nhiên và chính đáng, là lẽ sống của nó. Bằng trăm phương
ngàn kế, tỉnh táo và mù quáng, thông minh và dại dột, đoan chính và bất
chính, co người cố t́m đến cái mà nó nghĩ là sẽ đem lại cho nó hạnh
phúc.
Đạo đức học Kitô giáo,
cũng như mọi nền đạo đức học nhân bản, lĩnh nhận nhiệm vụ chỉ đường mách
lối cho con người đến với hạnh phúc. Song nó hiểu cái hạnh phúc ấy không
hoàn toàn giống các học thuyết tôn giáo khác và lại càng không giống các
học thuyết thế tục. V́ con người là h́nh ảnh và hữu thể tương đồng của
Thượng Đế, cho nên hạnh phúc của nó là vừa thể hiện đầy đủ bản tính con
người của ḿnh (ở thế giới bên này) vừa lớn lên từng bước tới tận Thượng
Đế (ở cả thế giới bên này lẫn thế giới bên kia). Trong sự lớn lên không
ngừng ấy, nó được Thượng Đế trợ lực (Thiên ân). Độ hạnh phúc của con
người ứng với độ hoàn chỉnh của nhân cách cá thể, hay là bản ngă của nó.
Đạo đức học Kitô giáo v́ thế “chỉ tuyên cáo và hứa hẹn cái hạnh phúc mà
có thể đạt tới nó bằng những nỗ lực đạo đức của bản ngă con người” (tiểu
mục X - XI). Đường tới Hạnh Phúc mở rộng cho tất cả mọi người, nhưng đối
với từng người nó là “con đường chật và cánh cổng hẹp”. Nếu suy nghĩ kĩ
th́ đường tới cái chân phúc cũng không thể khác được, mọi tôn giáo đều
nói như thế, chứ không chỉ đạo Kitô với ư tưởng của nó về Vương quốc của
Chúa Trời. Thí dụ thứ ba. Đối với ư thức thế tục hiện đại, có lẽ không
có từ nào khó nghe hơn từ “khổ hạnh”. Nhưng tác giả Đạo đức học sơ yếu
lại đặt phép khổ hạnh vào mối quan hệ trực tiếp không chỉ với đạo đức
tôn giáo mà c̣n với đạo đức con người nói chung (tiểu mục XIII). Dĩ
nhiên, không phải một ḿnh ông làm như thế, nhưng ông có cách lập luận
độc đáo của ḿnh Ứng dụng thuyết giá trị, ông chỉ ra cái độ vênh lớn
giữa cấp và lực của các giá trị thường hằng thể hiện trong đời sống cá
nhân và xă hội. Những giá trị tinh thần, là cao hơn về khách quan,
thường tỏ ra yếu hơn những giá trị vật chất thấp hơn về khách quan ;
chúng không tác động với một sức mạnh trực tiếp, không chiếm lĩnh và
cuốn hút con người như những giá trị vật chất. Cho nên mỗi khi có sự
xung đột, các giá trị cấp cao thường thất bại trước những giá trị cấp
thấp. Tác giả gọi thất bại ấy là “sự thất bạ của chính con người”. Và để
khỏi chịu sự thất bại hạ thấp phẩm giá của nó, con người phải có những
nỗ lực lớn lao và thường xuyên, nhằm khuất phục mănh lực thôi miên của
các giá trị vật chất và gia tăng sức mạnh của những giá trị tinh thần,
thiết lập trong đời sống của ḿnh, chứ không chỉ trong ư thức, cái trật
tự trên dưới chân chính của các giá trị. Chính những nỗ lực có hệ thống
ấy gọi là phép khổ hạnh, nó không phải là một cái ǵ đó ngoại biệt, mà
là cái b́nh thường và nhất thiết phải có trong đời sốn con người. Khổ
hạnh tôn giáo khác khổ hạnh thông thường ở mức độ của những nỗ lực và ở
ư thức hướng tới cái Thiện Hảo tuyệt đối, hay là Thượng Đế, nhưng bản
chất của chúng là một. Cần phải trả lại cho chữ “khổ hạnh” cái ư nghĩa
cao quư của nó, mà luân lí duy lợi không biết đến, tác giả kết luận.
Đạo đức học sơ yếu kết
hợp khá nhuần nhuyễn niềm tin vào con người với tinh thần đ̣i hỏi cao ở
nó. Tất nhiên, đây cũng lại không phải là một ưu điểm riêng của tác giả
Karol Vojtyla, mà là một đặc điểm của cả mt truyền thống thần học và
nhân học Thiên chúa giáo lấy học thuyết của Thomas d’Aquin (1225-1274)
làm cơ sở. Có thể thấy rất rơ đặc điểm này qua tiểu mục VI bàn tập trung
về tội tổ tông và các hậu quả của nó. Tội tổ tông đă làm hư hại, làm
biến hỏng đến đâu cái bản tính thiện hảo nguyên thủy của con người ? Về
vấn đề này, các nhà tư tưởng Kitô giáo ngay trong một giáo hội cũng có
những ư kiến rất khác nhau. Thánh Augustin, một trong những sư phụ được
sùng kính nhất trong thế giới Thiên chúa giáo, sống và ság tác vào thế
kỉ IV - V, truyền giảng một quan niệm khá bi quan : theo ông, tội tổ
tông đă làm biến hỏng hoàn toàn bản tính con người, đă đặt nó vào thế
đối kháng với Thượng Đế, và do đó tất cả những ǵ là xấu xa độc ác ở
loài người là hệ quả tất yếu của tội tổ tông, c̣n tất cả những ǵ là tốt
đẹp và đáng quư đều là do ân sủng của Thượng Đế. Thượng Đế giáng sủng,
cho người này được hưởng sự cứu rỗi, bắt người kia chịu h́nh phạt muôn
đời (học thuyết về tiền định). Học thuyết này mười một thế kỉ về sau sẽ
đượ các nhà cải cách tôn giáo Luther và Calvin tiếp thụ và phát triển,
biến thành cơ sở của thần học và nhân học đạo Tin lành. Nền thần học -
nhân học ấy ngay trong thời đại ngày nay cũng có không ít đại diện lỗi
lạc, chỉ cần nhắc đến thí dụ tên tuổi của Karl Barth (1886-1968). Thomas
d’Aquin và trường phái của ông - mà Karol Vojtyla, bây giờ là Jean Paul
đệ Nhị, là môn đệ nhiệt thành của thánh Thomas - kiên tŕ truyền bá một
quan niệm khác : tội tổ tông không làm biến hỏng đến cùng bản tính con
người, nó vẫn giữ được cái cốt lơi lành mạnh thể hiện ở lí tính, lương
tâm, ư thức nghĩa vụ tồn tại phổ biến trong nhân loại và làm cho tất cả
mọi người, không trừ một ai, đều có khả năng hấp thụ Thiên ân, tự tu
chỉnh và tự hoàn thiện. Thiên ân được tiếp nhận có ư thức và thành tâm
chữa lành và bổ khuyết cho cái tự nhiên của con người, dần dần trở thành
bản tính thứ hai của nó. Những người đă sống qua thế kỉ XX và đă chứng
kiến những thảm kịch và tai biến khủng khiếp của nó, chứng kiến những sự
biến chất không thể tưởng ượng nổi của con người, không dễ chia sẻ với
cha Karol Vojtyla cái niềm tin lạc quan ấy vào con người. Chính ông trên
những trang viết của ḿnh đă nhắc đến những tên phạm tội diệt chủng trời
không dung đất không tha trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai, và cả
những mưu toan không kém phần phản nhân cào bằng mọi cá thể con người,
biến xă hội loài người thành một cái ǵ đó giống tổ ong, tổ kiến, song
những hiện thực ấy không mảy may lung lay niềm tin nơi ông. Nhưng có thể
chính v́ niềm tin rất hiểu biết ấy v́ chủ nghĩa lạc quan rất tỉnh táo ấy
mà hôm nay hàng triệu, hàng triệu con người trên hành tinh này, không
chỉ các tín đồ Kitô giáo, lắng nghe tiếng nói của ông ?
Lịch sử thế giới
trong ba thế kỉ qua cho ta thấy một bức tranh vận động tiến - thoái hết
sức phức tạp và đầy kịch tính. Hôm nay hơn
bao giờ hết không thể yên tâm về bất ḱ một lĩnh vực nào của đời sống
con người trên trái đất này, nhất là về đời sống đạo đức - tinh thần.
Những bộ óc ưu thời mẫn thế ở phương Tây và phương Đông không phảikhông
có cơ sở cảnh báo về một “thời đại Trung cổ mới”, về “cuộc xâm lăng từ
chiều thẳng đứng của chất man rợ”, nó không từ một xă hội nào, một quốc
gia nào. Nền giáo dục con người, xưa kia là phận sự và độc quyền của các
tôn giáo, từ khi được chuyển giao cho các nhà nước thế tục, có thể tự
hào về nhiều thành tựu to lớn và vững chắc của ḿnh, nhưng không phải
trong khu vực đức dục. Vấn đề hợp tác giữa nhà nước, xă hội và các giáo
hội trong lĩnh vực này đang được đặt ra và giải quyết ở nhiều nước.
Trong t́n h́nh ấy, hiểu biết về đạo đức học của các nền tôn giáo lớn của
nhân loại trở thành nhiệm vụ của mọi công dân có trách nhiệm ở mọi quốc
gia. Chúng tôi hi vọng thiên khảo luận về những cơ sở đạo đức học Kitô
giáo, do một trong những đại diện ưu tú nhất của tôn giáo này viết, sẽ
được bạn đọc nước ta quan tâm tham cứu.
(Nguồn : Phạm Vĩnh Cư, Sáng tạo và giao
lưu
- Tập tiểu luận phê b́nh văn học,
Nxb. Hội nhà văn, Hà Nội 2004, tr. 558 – 570)
|