| |
Chúa Nhật II Mùa Chay - Năm C
St 15, 5-12.17-18 / Pl 3,17 – 4,1
/ Lc 9, 28b-36
An Phong op : Đức Giêsu, Vinh Quang của Thiên Chúa Cha
Như
Hạ op : Ánh Sáng Cuối Đường Hần
Như
Hạ 2004 : Sau Cơn mưa Trời Lại Sáng
Fr.Jude
Siciliano.OP. Từ Bỏ Mọi Ảo Vọng Về Vinh Quang Của Ḿnh
G. Nguyễn Cao
Luật op : Tượng Đài Ánh Sáng
Giuse
Đặng Chí San op : Ánh Sáng Trên Đường Dài Mỏi Mệt
Giacôbê
Phạm Văn Phượng op : Đau khổ và vinh quang
Tađêô
Hồ Vĩnh Thịnh op : Thưa Thày Chúng Con Ở Đây Thật Là Hay
Đỗ Lực op :
Đồng H́nh Hay Biến H́nh
An Phong op
Đức Giêsu, Vinh Quang của Thiên Chúa Cha
Lc 9, 28b-36
Tin mừng hôm nay là tŕnh thuật Chúa
Giêsu đưa Phêrô, Giacôbê và Gioan lên núi cầu nguyện. Đang khi cầu
nguyện, Người đă "biến h́nh" – tỏ vinh quang – trước mắt các ông. Đức
Giêsu, Người Tôi Tớ Đau Khổ của Thiên Chúa, sẽ dùng thập giá mà đi vào
vinh quang của Vương Quốc Thiên Chúa. Tŕnh thuật biến h́nh này là sự
báo trước vinh quang đó. Cuộc tử nạn không phải là tận điểm, nhưng chính
là vinh quang Phục sinh. Môsê và Êlia là hai thế giá – Luật và các Ngôn
sứ – đảm bảo cho cuộc biến h́nh này. Lời Thiên Chúa Cha : "Đây là Con Ta
yêu dấu..." c̣n âm hưởng của biến cố Chúa chịu phép rửa. Như thế, qua
biến cố biến h́nh này, Thiên Chúa Cha đă chuẩn nhận t́nh yêu và sự vâng
phục của Đức Giêsu được thực hiện qua cuộc khổ nạn. Thiên Chúa Cha đă "biến
h́nh" Đức Giêsu trong ánh sáng và vinh quang.
Cuộc biến h́nh của Đức Giêsu là một "cú
sốc" đối với các môn đệ của Người : Đức Giêsu thường ngày, người từng
chia sẻ cuộc sống với họ bỗng chốc trở nên sáng láng, vinh quang; Đức
Giêsu, h́nh ảnh Thiên Chúa vô h́nh bỗng chốc trở nên hữu h́nh trong thân
xác biến h́nh của Người.
Cái thường ngày đôi khi làm chúng ta
không nhận ra những điều kỳ diệu của cuộc sống. Rồi xảy ra một biến cố
đặc biệt nào đó, chúng ta sẽ bị "sốc". Trong cuộc lữ hành đức tin của
chúng ta, đôi khi chúng ta cũng không nhận ra Thiên Chúa hiện diện trong
cuộc sống, bởi lẽ Người vẫn là một Vị Thiên Chúa ẩn giấu (chứ không vắng
mặt). Đôi khi Thiên Chúa hiện diện trong các điều "kỳ diệu", qua các
biến cố đời thường, nhưng chúng ta lại không nhận ra Người.
Qua cuộc biến h́nh của Đức Giêsu, Thiên
Chúa Cha chuẩn nhận t́nh yêu và ḷng vâng phục của Đức Giêsu. Đức Giêsu
đă loan báo về cuộc khổ nạn của Người. Người hoàn toàn ư thức rằng ḿnh
sẽ phải chịu tử nạn. Người chấp nhận cuộc tử nạn mà Thiên Chúa Cha muốn
để cứu độ trần gian. Thiên Chúa Cha đă cho Người phục sinh trong vinh
quang.
Đời sống kitô hữu là ǵ nếu không phải là
đời sống trong t́nh yêu và sự vâng phục thánh ư Thiên Chúa. Nếu chúng ta
vâng phục thánh ư Thiên Chúa, chúng ta hy vọng sẽ được vinh quang, niềm
vui, b́nh an. Đôi khi sự vâng phục này làm chúng ta đau đớn "đến chết
được". Chúng ta sẽ cảm nghiệm được sự b́nh an của Đức Giêsu, đồng thời
có thể nói lên : "Đấng đă sai tôi vẫn ở với tôi; Người không để tôi cô
độc, v́ tôi hằng làm những điều đẹp ư Người" (Ga 8,29).
Đức Giêsu đă biến h́nh khi Người đang cầu
nguyện. Cầu nguyện là đàm đạo, là gặp gỡ, là thái độ tâm hồn hướng lên.
Các vị Thánh là những người cầu nguyện và tôn thờ Thiên Chúa bằng cả
cuộc đời ḿnh.
Nếu chúng ta vẫn trung thành với việc cầu
nguyện, chắc chắn rằng Thiên Chúa sẽ ban b́nh an, niềm vui và hạnh phúc
cho chúng ta.
Sau khi biến h́nh, các môn đệ chỉ c̣n
nhận ra Đức Giêsu "đời thường", với một đời sống b́nh thường như xưa.
Chỉ sau biến cố Phục sinh, các ông mới hiểu trọn vẹn ư nghĩa cuộc biến
h́nh.
Đời sống thường nhật mỗi ngày không thiếu
"những vinh quang", nhưng cũng có cả bóng tối và thập giá. Dường như đời
sống chúng ta luôn có thập giá. "Qua thập giá đến Phục sinh, qua đau khổ
đến vinh quang" vốn là châm ngôn của đời sống công giáo.
Biến cố biến h́nh của Đức Giêsu dạy chúng
ta biết nh́n ra điều kỳ diệu vốn giấu ẩn qua những nét thường t́nh của
đời sống. Biến cố biến h́nh dạy chúng ta biết luôn sống t́nh yêu và vâng
phục thánh ư Thiên Chúa. Biến cố biến h́nh dạy chúng biết qua đau khổ
đến vinh quang.
Lạy Chúa, Chúa chúng con.
Xin
cho chúng con phát hiện Chúa trong thế giới.
Nhận thấy Chúa qua mọi biến cố trong lịch sử chúng con.
Xin mở rộng tinh thần chúng con t́m kiếm t́nh yêu Chúa.
Xin uốn nắn lưỡi chúng con xưng tụng Thánh Danh Chúa.
Xin hướng dẫn tay chúng con xây dựng Vương Quốc Chúa,
v́ Chúa ở trong nỗ lực chúng con đi t́m,
Chính Chúa làm sinh động cuộc t́m kiếm.
Chúa ngự trong cuộc sống
chúng con,
chính Chúa ban cho cuộc sống ư nghĩa đích thực – lẽ sống duy nhất.
V́ Chúa là mục tiêu duy nhất.
Yêu mến Chúa thêm một chút,
để tiến dâng Chúa lời chúc tụng vẻ vang nhất.
Hân hoan thêm một chút,
để đem đến cho muôn loài khuôn mặt thật là Tôn Nhan Chúa.
Như Hạ OP
ÁNH SÁNG CUỐI ĐƯỜNG HẦM
Lc 9, 28b-36
Với tốc độ 300.000 cây số một giây, ánh
sáng có thể bay nhanh tới những miền xa thẳm trong chớp mắt. Không vật
nào có thể di chuyển nhanh như thế. Nhờ ánh sáng Chúa biến h́nh hôm nay,
ba môn đệ cũng phóng tầm nh́n rất xa, xa tới tận bản tính Thiên Chúa.
Chính v́ thế, các ông đă xác định được hướng sống và t́m được nền tảng
của niềm hi vọng cho cuộc đời. Trong ánh sáng thần kỳ, Đức Giêsu đă mạc
khải tất cả sự thật về Người. Sứ mệnh Người hiện rơ từng nét. Chúng ta
t́m về ánh sáng đó để cùng các môn đệ ngất ngây chiêm ngưỡng dung nhan
tuyệt vời của Đức Giêsu, Con Thiên Chúa và là Đấng cứu độ muôn dân.
ÁNH SÁNG THẦN KỲ
Nếu không được chứng kiến ánh sáng thần
kỳ trên núi, các môn đệ măi măi sống trong giằng co bất tận giữa thực tế
và mộng tưởng. Giấc mơ Thiên sai vẫn đẹp như ngày nào. Thiên sai phải là
một anh hùng cái thế thực hiện tất cả những giấc mộng bá chủ của dân tộc
Do thái. Thực tế Thày lại tiên báo về một Thiên sai đau khổ và bị
những nhà lănh đạo dân chúng tiêu diệt khỏi mặt đất (Mt 16:21; Lc
9:22; Mc 8:31). Lời Thày như dẫn các môn đệ vào con đường hầm dầy đặc
bóng tối.
Nhưng đă đến lúc ánh sáng lóe lên ở cuối
đường hầm. Đức Giêsu muốn lôi các môn đệ ra khỏi cảnh hoang mang đó.
Người phải củng cố niềm tin các môn đệ. Nếu không, các ông sẽ mất hẳn
chiếc phao và sẽ trôi dạt đến một chân trời vô định. Cả sự nghiệp Thày
tṛ sẽ tan tành ra mây khói. Bởi vậy Thày quyết định dẫn ba môn đệ thân
tín nhất lên núi để t́m một điểm mốc cho tương lai.
Núi là nơi lư tưởng để Thày tṛ cầu
nguyện. Nhưng lần này khác hẳn. “Núi là nơi thường chứng kiến những
mạc khải siêu nhiên và những cuộc thần hiển” (The New Jerome
Biblical Commentary 1990:615). Sau khi đă leo tới đỉnh núi, “Người
biến đổi h́nh dạng trươc mắt các ông. Y phục Người trở nên rực rỡ, trắng
tinh, không có thợ nào ở trần gian giặt trắng được như vậy” (Mc
9:3).
Đức Giêsu đă xuất hiện nguyên h́nh. Thân
xác không cản nổi luồng sáng từ thiên tính Người. Niềm tin các môn đệ
bừng dậy. Có lẽ trong niềm tin Phật tử, Đức Phật cũng tỏa ra một thứ hào
quang tương tự khi chứng ngộ, thành đạo dưới gốc cây bồ đề (?). Bởi vậy
nói theo kinh nhà Phật, trong cuộc biến h́nh hôm nay, Đức Giêsu cũng đă
thành con đường dẫn các môn đệ thoát khỏi bến mê và trở về nhà Cha an
toàn.
Trong ánh sáng biến h́nh, các môn đệ sẽ
hiểu được lời Đức Giêsu hứa về “Triều Đại Thiên Chúa đầy uy lực”
(Mc 9:1) và xác tín “Thày là Đức Kitô” (Mc 8:30). Nói cách khác,
Thày tự mạc khải là Đấng quyền năng có sứ mạng cứu nhân độ thế. Trong
địa vị và vai tṛ lớn lao đó, Thày xứng đáng là vị lănh đạo muôn dân vào
Đất Hứa. Thày xuất hiện để lời các tiên tri trở thành hiện thực. Chính
v́ thế hai ông Môsê và Êlia đă xuất hiện để củng cố và chiếu sáng niềm
tin các môn đệ vào sứ mạng của Thày. Đúng hơn, hai ông là cái nền đánh
bóng dung nhan Đức Giêsu.
CHÂN TƯỚNG VỊ THIÊN SAI
Nhưng trên hết, chính lúc các ông ngây
ngất về dung nhan Thày trổi vượt hơn các ông Môsê và Elia, th́ “có
một đám mây bao phủ các ông” (Mc 9:7). Mây là biểu tượng Thiên Chúa
hiện diện. Phải được nhắc lên đám mây, các ông mới nghe được tiếng Chúa
Cha : “Đây là Con Ta yêu dấu, hăy vâng nghe lời Người” (Mc 9:7).
Lời tŕu mến chừng nào !
Tất cả cơ nghiệp Chúa Cha là Đức Giêsu !
Nhưng cơ nghiệp ấy Chúa Cha đă không ngần ngại hi sinh cho hạnh phúc
nhân loại. H́nh ảnh Abraham sẵn sàng sát tế Isaac chỉ diễn tả phần nào
tấm ḷng hi sinh cao cả của Thiên Chúa đối với con người. Abraham chỉ bị
thử thách, chứ không sát tế người con yêu quí. Trái lại, “đến như
chính Con Một, Thiên Chúa cũng chẳng tha, nhưng đă trao nộp v́ hết thảy
chúng ta” (Rm 8:32). Thiên Chúa Cha quí trọng mạng sống Con Cha tới
mức nào. Vậy mà Người đă hi sinh mạng sống ấy cho chúng ta (Disciples in
Mission [Homily Guide, Lent Cycle B] 1999:10). “Thiên Chúa đă trả giá
đắt mà chuộc lấy anh em”6 (1 Cr :20).
“Tiếng trong đám mây làm liên tưởng tới vị tiên tri trong
Đệ Nhị Luật (18:15) sẽ được lắng nghe vào những ngày sau hết”
(Faley
1994:231). Đám mây và Lời Chúa Cha chứng minh rơ ràng tự bản tính Đức
Giêsu là Con Thiên Chúa. C̣n ai xứng đáng cho các môn đệ nghe lời hơn
không ? Vậy mà từ xưa tới nay, các ông vẫn hoang mang v́ dư luận ! Bởi
vậy từ nay, dù Thày có nói những điều trái tai gai mắt, các môn đệ cũng
phải chấp nhận. Sự thật vẫn là sự thật. Thày không sợ sự thật. Thày muốn
môn đệ cũng phải đối diện với sự thật. V́ “sự thật sẽ giải phóng các
ông” (Ga 8:32).
Thấy cảnh Đức Giêsu biến h́nh, Phêrô cảm
thấy lúng túng. “Ông không biết phải nói ǵ, v́ các ông kinh hoàng”
(Mc 9:6). Một kinh nghiệm khó quên. Một cảm nghiệm thần bí tuyệt vời.
Tuyệt vời đến nỗi ông muốn kéo dài măi cảnh thần tiên đó. Đề nghị dựng
ba lều chỉ là một cách nói lên điều ông không biết diễn tả làm sao nỗi
vui sướng ngây ngất. Nhưng Đức Giêsu không muốn các môn đệ “ngủ quên
trên chiến thắng”. Ngay trên núi, vừa mới chứng kiến cảnh Thày biến
h́nh, các ông bị trả về thực tế. “Các ông chợt nh́n quanh, th́ không
thấy ai nữa, chỉ c̣n Đức Giêsu với các ông mà thôi” (Mc 9:8). Thực
tế trơ ra đó. Nhưng thực tế không phải chỉ có thế. Các ông lại phải tiếp
tục nghe những điều nhức nhối tâm can phát ra từ miệng Thày. Thày tṛ rủ
nhau xuống núi. Thày tiếp tục quả quyết về số phận không thể tránh :
“Người phải chịu nhiều đau khổ và bị khinh chê” (Mc 9:12).
Lúc này có lẽ các ông đă sẵn sàng nghe
Đức Giêsu hơn, v́ ai có thể tẩy mờ h́nh ảnh Thày biến h́nh khỏi tâm trí
các ông ? Làm sao các ông quên được lời phán từ đám mây : “Hăy vâng
nghe lời Người”. Nghe lời Người để t́m đến sự sống, chứ không phải
cái chết. Đúng hơn, niềm hi vọng sẽ bừng dậy khi “Con Người từ cơi
chết sống lại” (Mc 9:9). Đó mới là điều ám ảnh tâm trí các ông suốt
đời. Đức Giêsu Phục sinh sẽ là câu trả lời đích xác, dẹp yên mọi xôn xao
trong ḷng các ông từ trước tới nay. Từ đây giấc mộng Thiên sai bá chủ
sẽ nhường bước cho niềm hi vọng Phục sinh lớn lao đó. Ánh sáng biến h́nh
chỉ là bóng mờ so với ánh sáng Phục sinh.
Nhưng không chứng kiến hay cảm nghiệm
được ánh sáng biến h́nh, người ta có thể ngộ nhận về sứ mệnh thiên sai
của Đức Giêsu. Đó là lư do tại sao “Đức Giêsu truyền cho các ông
không được kể lại cho ai nghe những điều vừa thấy, trừ khi Con Người từ
cơi chết sống lại” (Mc 9:9). Trong ánh sáng Phục sinh, các môn đệ
mới nhận thấy rơ ràng “nơi Đức Giêsu Kitô, chính Thiên Chúa đă can
thiệp để cứu độ dân Người” (Fisichella 1995:669). Người chính là vị
Thiên sai đến thực hiện tất cả những lời Thiên Chúa hứa giải thoát nhân
loại.
Ngày nay, nhiều nơi trên thế giới, nhân
loại vẫn c̣n sống trong những đường hầm chật chội, tăm tối. Sự dữ và bất
công c̣n hiện diện khắp nơi. Chính v́ thế người Kitô hữu vẫn chưa thể
nghỉ yên. “Sứ mệnh Thiên sai vẫn c̣n đó như mời gọi dân thiên sai
thực hiện cuộc giải thoát toàn vẹn và sau cùng. Biến cố huyền nhiệm Phục
sinh chắc chắn đă mang lại ơn cứu độ. Biến cố đó không chuẩn chước,
nhưng đúng hơn thúc ép chúng ta phải trở nên khí cụ thực hiện công b́nh
và từ bi ở bất cứ nơi đâu sự dữ c̣n hoành hành”(Fisichella
1995:669). Nhờ đó, ḥa b́nh sẽ là dấu chỉ rơ nhất của Thiên Chúa t́nh
yêu giữa một xă hội đầy bạo động và sa đọa này. Vẫn c̣n hi vọng ánh sáng
lóe lên ở cuối đường hầm.
Như Hạ 2004
SAU CƠN MƯA TRỜI LẠI SÁNG
Lc 9, 28b-36
C̣n ǵ vui hơn khi thấy giấc mơ thành sự
thật. Các môn đệ đă thấy rơ Đức Giêsu đến thực hiện tất cả mộng ước của
dân Do thái về Đấng Messia. Niềm hi vọng tưởng như bừng lên khi ông
Phêrô tuyên xưng : Thầy là Đấng Kitô của Thiên Chúa.” (Lc 9:20)
Nhưng đám mây đen đă kéo đến với lời Đức Giêsu tiên báo về cuộc khổ nạn
sắp tới (x. Lc 9:22), tiếp sau biến cố Gioan Tẩy giả vừa mới bị giết (Mt
14:1-12; Mc 6:14-29).
CẢNH BỒNG LAI
Để khai quang đám mây đen đó, “Đức
Giêsu lên núi cầu nguyện đem theo các ông Phêrô, Gioan và Giacôbê.”
(Lc 9:28b) Chỉ có lời cầu nguyện mới giữ nổi niềm hi vọng. Chính v́ thế,
Đức Giêsu đặt hết niềm tin tưởng nơi Chúa Cha, Đấng có thể thỏa măn mọi
niềm hi vọng. “Đang lúc Người cầu nguyện, dung mạo Người bỗng đổi
khác.” (Lc 9:29) Cuộc kết hiệp đă đưa Người xa rời thế giới chung
quanh, đi vào cảnh bồng lai Thiên Chúa. Cả cảnh vật chung quanh cũng
biến đổi theo cuộc kết hiệp vĩ đại đó : “Y phục Người trở nên trắng
tinh chói ḷa.” (Lc 9:29) Cuộc kết hiệp thần kỳ đă mở ra tất cả bí
mật của thế giới Thiên Chúa. Rơ nhất là tương quan phụ tử : “Đây là
Con Ta, người đă được Ta tuyển chọn.” (Lc 9:35) Tương quan này sẽ
chi phối tất cả cuộc đời và con người của Đức Giêsu. Tương quan cực kỳ
sâu đậm, cao đẹp và thắm thiết. Tất cả những tương quan khác trong biến
cố biến h́nh đều tùy thuộc vào tương quan đó. Nhờ thế, Đức Giêsu đă có
thể làm tất cả mọi sự để hoàn thành sứ mệnh cứu độ trần gian. Sứ mệnh đó
bắt nguồn từ lời hứa của Thiên Chúa.
Lời hứa đó được nhắc lại khi “ông Môsê
và ông Elia hiện ra, rạng ngời vinh hiển, và nói về cuộc xuất hành Người
sắp hoàn thành tại Giêrusalem.” (Lc 9:31) Những h́nh ảnh Cựu Ước
tuyệt vời này đă củng cố niềm tin cho các tông đồ. Nguyên sự xuất hiện
đó đă đưa uy tín của Đức Giêsu lên tột đỉnh niềm tin của các ông. Huống
nữa các ông Môsê và Elia c̣n nói về một cuộc xuất hành mới tại
Giêrusalem. Cuộc xuất hành mới sẽ đem muôn dân vào miền đất hứa mới. Đức
Giêsu rất xứng đáng lănh đạo toàn thể nhân loại, chứ không chỉ một dân
tộc như Môsê. Người c̣n có thể phóng tầm nh́n xa hơn một tiên tri như
Elia để đem lại niềm hi vọng lớn lao cho ḷng người, v́ Người sẽ đem tất
cả nhân loại vào tương quan sâu xa với Thiên Chúa. Chỉ trong tương quan
này, “con người mới t́m thấy chính ḿnh cách trọn vẹn và khám phá ra ư
nghĩa tối hậu của đời sống.” (Gioan Phaolô II, VietCatholic 27/2/2001)
Nhờ tương quan đó, Người đă có thể hoàn thành cuộc xuất hành ở
Giêrusalem, cao điểm của mọi lời hứa.
Khi các nhân vật Cựu Ước đă hoàn thành
nhiệm vụ, các nhân vật Tân Ước cũng được tŕnh diện với Thiên Chúa trong
công cuộc xuất hành mới. Đây là những nhân vật quan trọng sẽ góp phần
vào công cuộc giải phóng dân Chúa. Do đó các ông cũng cần đi vào cuộc
tiếp xúc sâu xa với Thiên Chúa. Cuộc tiếp xúc với các nhân vật Cựu Ước
đă khiến Phêrô muốn dừng lại để định cư với những túp lều lư tưởng.
Nhưng ông bị đẩy xa hơn. Đám mây đă đem các ông vào một trời đất mênh
mông, vượt trên mọi biên giới trần gian. Các ông bị choán ngợp trong thế
giới Thiên Chúa. Thật vậy, khi “ông (Phêrô) c̣n đang nói, th́ bỗng có
một đám mây bao phủ các ông. Khi thấy ḿnh vào trong đám mây, các ông
hoảng sợ.” (Lc 9:34) Lúc này các ông không c̣n nghe thấy tiếng loài
người nữa, nhưng trực tiếp nghe Thiên Chúa xác quyết về bản chất và sứ
mệnh của Đức Giêsu. Người thực sự là Con Thiên Chúa, được tin tưởng và
ủy thác việc hoàn thành cuộc xuất hành mới. Nếu Thiên Chúa c̣n tin tưởng
và giao cho Người sứ mệnh cao cả như vậy, làm sao con người lại không
tin ? Tiếng nói của Chúa Cha là một bảo đảm vững chắc nhất : “Hăy
vâng nghe lơi Người !” (Lc 9:35) ngay cả trong những nghịch lư của
cây khổ giá. Từ nay, Lời Chúa phải có một giá trị tuyệt đối. Chỉ cần
nghe lời Đức Giêsu là vâng phục Thiên Chúa. Bởi vậy, “tiếng phán vừa
dứt, th́ chỉ c̣n thấy một ḿnh Đức Giêsu.” (Lc 9:36) Từ nay chẳng
cần một cuộc biến h́nh nào nữa, v́ chỉ một ḿnh Đức Giêsu cũng đủ cho
con người thấy tất cả hồng ân cao cả của Thiên Chúa.
CUỘC XUẤT HÀNH MỚI.
Chỉ
khi nào vào trong đám mây, nghĩa là cũng biến h́nh như Chúa, các tông đồ
mới có thể định hướng cho cuộc xuất hành mới. Hướng mới chính là Đức
Giêsu Kitô. Trước đây, dù ngay khi c̣n trên núi, các ông đă lâm vào t́nh
trạng “không biết ḿnh đang nói ǵ” (Lc 9:33) hay “hoảng sợ.” (Lc 9:34)
Nhưng giờ đây, sau khi đă thấy rơ tất cả sự thật về Đức Giêsu, chắc chắn
các ông sẽ vững tâm hơn. Từ nay, các ông tin tưởng tuyệt đối “Người
có quyền năng khắc phục muôn loài, và sẽ dùng quyền năng ấy mà biến đổi
thân xác yếu hèn của chúng ta nên giống thân xác vinh hiển của Người.”
(Pl 3:21) Cuộc biến h́nh này sẽ đẩy chúng ta vào cuộc xuất hành mới.
Cuộc biến h́nh đó có thể thực hiện ngay
trên mặt đất. Xưa kia, v́ “tin Đức Chúa,” (St 15:6) ông Abraham được
“Đức Chúa lập giao ước.” (St 15:18) Không những thề, ông c̣n trở thành
tổ phụ của ḍng dơi đông như sao trên trời (x. St 15:5). Nhưng trên hết,
nhờ ḷng tin, ông được “Đức Chúa kể là người công chính.” (St 15:6) Nói
khác, ḷng tin đă thực hiện một cuộc biến h́nh ngoạn mục trong đời ông.
Cuộc biến h́nh hôm nay c̣n ngoạn mục hơn
nhiều. Chính cái chết và sự phục sinh của Đức Giêsu sẽ biến Kitô hữu
thành người công chính, hơn nữa trở nên bạn hữu Đức Kitô, để có thể đi
vào cuộc hiệp thông sâu xa với Thiên Chúa. Từ cuộc hiệp thông này, chúng
ta mới có thể ḥa giải với tha nhân. “Ḥa giải cho dù ḿnh có lỗi đă
là khó. Ḥa giải ngay cả khi người ta lỗi đến ḿnh xem ra c̣n khó khăn
hơn v́ nhiều người vẫn cho là điều nhục nhă vô lư.” (Gioan Phaolô
II, VietCatholic 25/2/2001) Ḷng tự ái thật là trái núi lớn nằm ch́nh
́nh giữa tương giao nhân loại. Nhưng nếu “có ḷng tin lớn bằng hạt cải
thôi, th́ dù anh em có bảo núi này ‘rời khỏi đây, qua bên kia !’ nó cũng
sẽ qua, và sẽ chẳng có ǵ mà anh em không làm được.” (Mt 17:20-21) Ai có
thể lường hết sức mạnh đức tin ?!
Đức tin đă khiến Abraham vượt núi băng
rừng đến miền đất hứa. Đất hứa đó ngày nay không đóng khung trong ranh
giới Do thái, v́ miêu duệ Abraham là Giáo hội đă trải rộng khắp mặt đất.
Mặc dù niềm tin đó đă gặp nhiều thử thách, nhưng Giáo hội vẫn sống mạnh
với niềm tin tuyệt đối vào Thiên Chúa nơi Đức Giêsu Kitô. Nhờ đó, Giáo
hội đă biến h́nh và luôn phản ánh vinh quang Thiên Chúa giữa muôn dân.
Là con cái Giáo hội và là chính Giáo hội,
người Kitô hữu phải làm ǵ để luôn phản ánh “vinh quang của Đức Giêsu” (Lc
9:32) giữa những sinh hoạt muôn mặt hôm nay ? Làm sao sống xứng đáng “là
niềm vui, là vinh dự” (Pl 4:4) của Giáo hội giữa một thế giới đầy bất ổn
và buồn chán hôm nay ? Chỉ có cách bám chặt vào niềm hi vọng duy nhất là
Đức Kitô. Sống giữa trần thế, nhưng chúng ta vẫn không quên “quê hương
chúng ta ở trên trời, và chúng ta nóng ḷng mong đợi Đức Giêsu Kitô từ
trời đến cứu chúng ta.” (Pl 3:20).
Fr.Jude Siciliano.OP.
Từ Bỏ Mọi Ảo Vọng Về Vinh Quang Của Ḿnh
Lc 9, 28b-36
Kính thưa qúi vị.
Câu chuyện Chúa Giêsu biến h́nh c̣n xa
mới đến cậu chuyện về cuộc khổ nạn của Ngài. Tŕnh thuật này ở chương 9,
tŕnh thuật khổ nạn ở chương 22 trong tin mừng thánh Luca. V́ vậy chúng
ta có khuynh hướng nghĩ rằng trong giai đoạn này, Chúa Giêsu đang tràn
ngập vinh quang v́ những thành công, và danh tiếng Ngài đang lan rộng
khắp miền Palestina. Nhưng nếu đọc kỹ chương này ta sẽ thấy không phải
như thế. Mây xám đang kéo về vần vũ trên bầu trời của Ngài, hứa hẹn một
trận cuồng phong ghê gớm.
Chương 9 khởi sự với việc Chúa Giêsu sai
phái 12 tông đồ đi rao giảng, đầy quyền năng và uy tín. Vua Hêrôđê đă
bắt đầu quan tâm đến Chúa Giêsu. Tiếp theo là các môn đệ trở về kể lại
cho Ngài những việc làm sáng chói và những thành tựu vang dội. Đám đông
theo Chúa đều được chữa lành mọi bệnh tật và được ăn no nê với vài cái
bánh và mấy con cá nhỏ. Ong Phêrô tuyên xưng đức tin mạnh mẽ vào Chúa
Giêsu, một đức tin có lẽ đă được hậu thuẫn bởi những phép lạ Ngài làm .
Nhưng Chúa Giêsu cắt ngang lời tán dương của ông va loan báo rằng Ngài
sẽ bị giới cầm quyền đền thờ ghét bỏ, chịu muôn vàn h́nh khổ và chịu
chết. Ngài c̣n thêm: những ai muốn theo Ngài th́ cũng sẽ phải chịu khổ
như vậy, vác lấy thánh gía ḿnh mà theo. Câu chuyện tin mừng của chương
này là như vậy. Lời nói va việc làm lạ lùng của Chúa Giêsu lôi kéo một
đám đông không đếm nổi. Có lẽ các môn đệ đă “đụng” phải một “người
hùng”thời đại. Nhưng Chúa Giêsu đă làm cho không khí hồ hởi đó phải tắt
ngúm khi Ngài báo trước những tai họa sắp tới. Riêng câu chuyện về việc
hiển dung hôm nay cũng pha trộn hai thái độ: một vui, một buồn. Nhưng
các tông đồ chỉ lưu tâm đến khía cạnh vui, rực rỡ, huy hoàng, nên họ đă
bỏ lỡ mất toàn thể thực tại của việc theo Chúa mà Ngài muốn dậy. Họ đă
trở nên những kẻ “mộng du”.
Ngài chọn ba môn đệ gần gũi nhất là Phêrô,
Giacôbê và Gioan. Các ngài leo lên một ngọn núi cao, tương truyền là nơi
gặp gỡ thần linh. Có lẽ Chúa muốn cho họ được nghe, nh́n rơ hơn về nhân
cách của Ngài và học hỏi thêm theo Ngài có những hệ qủa ra sao ? Đ̣i hỏi
những ǵ ? Nhưng đáng lư đây là những giây phút nghiêm trọng, họ phải
toàn lực cảnh giác, tỉnh thức và sẵn sàng th́ họ lại thiếp ngủ. Môn đệ
Chúa Giêsu có thói quen”ngủ kh́” vào những giây phút quan trọng. Xin qúi
vị nhớ lại vào đêm Chúa ở trong vườn Cây Dầu lúc bị bắt, các môn đệ đă
làm ǵ ? Họ đang ngon giấc điệp !
Nói cho thật t́nh, chúng ta cũng là những
kẻ “mộng du”, nhắm mắt lại thiếp đi ngon lành đúng vào những thời điểm
oái oăm và nếu không thức dậy kịp thời chúng ta cũng sẽ bỏ lỡ nhiều cơ
hội quan trọng để rồi sẽ bị dẫn đến lầm đường, lạc lối. Không chịu tỉnh
thức đối mặt với thực tại qủa là một nguy hiểm tai hại. Cứ xem các tông
đồ là những kẻ mộng du. Họ theo Chúa Giêsu, nhưng vẫn giữ những giấc mơ
riêng của ḿnh về những thay đổi mà họ đ̣i hỏi Chúa Giêsu thực hiện. Một
con người đầy quyền phép và năng lực như vậy lại không thể đổi thay t́nh
thế qúa ư tồi tệ của đất nước ? Thế giới này cần được đổi mới. Người ta
cần những mùa màng bội thu để nuôi thêm kẻ đói khát. Phải có trật tự
kinh tế mới ngơ hầu người nghèo, kẻ cùng khổ không c̣n là nạn nhân cũa
các tay cường hào ác bá…vân vân và vân vân.
Các tông đồ đă ngủ cả, khi Chúa Giêsu đàm
đạo với ông Mô-sê và Elia. Họ đă bỏ lỡ nội dung của cuộc đàm đạo đó. Mà
nội dung ấy lại tối quan trọng cho họ. Đó là về cuộc vượt qua của Ngài
tại Giêrusalem. Đó là một cuộc xuất hành mới, xuất hành khỏi ṿng tội
lỗi đă bao đời ḱm kẹp nhân loại. Nhưng xuất hành thế nào, họ đâu có
biết ! Họ ngủ cả, cho nên họ đâu nắm được những bài học qúi gía và
nghiêm trọng của biến cố này ! Hy sinh để được Chúa nâng đỡ bằng chính
cuộc hy sinh của Ngài ! V́ vậy chẳng lạ ǵ khi Chúa phải vác thập tự th́
không thấy tông đồ nào có mặt để vác giúp. Họ hoàn toàn ngỡ ngàng khi
thánh gía xuất hiện. Nếu như họ đừng ngủ trên núi biến h́nh, nếu như họ
đừng ngủ khi Chúa chịu cực h́nh ở Giêrusalem, nếu như họ ở lại trên ngọn
đồi Can-vê , dương to đôi mắt, mở to đôi tai, luôn luôn tỉnh thức, sẳn
sàng, họ đă không bỏ lỡ sự phục sinh của Ngài va một đời sống hoàn toàn
mới thuộc vể họ. Lúc ấy chẳng bao giờ họ thiếp ngủ được nữa.
Lúc ấy, hào quang của biến cố hiển dung
sẽ trở nên hào quang của Chúa phục sinh và chắc chắn họ cũng được chia
sẻ hào quang đó. Họ sẽ được thay đổi và họ sẽ thay đổi được thế giới, để
rồi kẻ đói được thêm bánh ăn, kẻ bất hạnh được đối xử tử tế, người nghèo
được trân trọng. Mọi người bất kể là ai, trẻ, già, trai, gái, giầu có
hay thiếu thốn, thông minh hay dốt nát thẩy được b́nh đẳng. Lúc ấy ánh
sáng chói lọi từ Chúa Phục sinh sẽ biến đổi chúng ta để chúng ta cũng
được hiển dung với Chúa hay ít nhất thế giới có được những thay đổi như
mọi ḷng mong ước.
Mùa chay là mùa biến đổi tất cả chúng ta
thành môn đệ thực sự của Chúa Giêsu. Chúng ta học mở to hai con mắt, từ
bỏ mọi cuộc mộng du, ảo vọng, quan niệm sai lầm về ḿnh, về vinh quang
của ḿnh, nh́n rơ hơn về ơn gọi làm môn đệ Chúa Giêsu trong đời sống
hằng ngày. Ngay trong thánh lễ hôm nay chúng ta cũng có thể là kẻ mộng
du. T́m chỗ tốt thả hồn lang thang, nói chuyện gẫu, vừa dự lễ vừa uống
cà phê…, hay chúng ta cũng có thể được tiệc thánh Chúa chỉ đường dẫn lối
tự biến đổi và biến đổi cả thế giới.
Bài đọc Cựu ước đưa chúng ta vào thời tổ
phụ Abraham (St12,1…) Thiên Chúa hứa với ông Apram rằng Ông sẽ là cha
một dân tộc to lớn. Abraham đă tin vào lời hứa ấy. Ông cùng với vợ là
Sara đă bỏ mọi sự và đi đến một miền đất hoàn toàn xa lạ. Hai ông bà đă
nên gương mẫu đức tin cho con cháu mai sau. Một đức tin vững chắc, sẵn
ḷng phó thác vào lời Thiên Chúa hứa ngay cả chẳng có ǵ làm bằng chứng
để có thể tin cậy được. Lúc ấy họ chưa có con dù cả hai đă ǵa,chưa có
một mảnh đất cắm dùi, nhưng họ vẫn kiên định đi theo Chúa.
Kiên định như thế để được cái ǵ ? Chỉ v́
lời hứa có con cháu nối ḍng ! Vậy điều quan trọng nổi bật ở đây, không
phải là đức tin của Abraham hay bất cứ ai khác, mà là Thiên Chúa. Ngài
nói với Abraham : “Ta là Đức Chúa, đă đưa ngươi ra khỏi thành Ur của dân
Can-đê, để ban cho ngươi đất này làm sở hữu”. Abraham đă hỏi lại những
câu mà có lẻ tất cả chúng ta cũng muốn hỏi, tùy vào hoàn cảnh của mổi
người : “Làm sao tôi biết được đất này làm sở hữu ? làm sao tôi biết
được Chúa về phe với tôi trong những ḥan cảnh khó khăn khi không có lấy
một bằng chứng đáng tin cậy ? Làm sao tôi biết được ḷng Chúa tín trung
? Làm sao tôi biết được ḿnh không bị lừa dối ? Làm sao tôi biết được
ḿnh không lầm khi khăng khăng tin cậy vào Chúa trước những thực tế phũ
phàng ? Làm sao và làm sao ???
Câu trả lời từ phía Thiên chúa là một
nghi lễ giao ước cổ truyền (Gr.34,18-20). Khi làm giao ước, các sinh vật
được cắt làm đôi. Mỗi bên kư giao ước phải bước đi qua giữa hai nửa, như
muốn nói rằng, nếu tôi vi phạm, tôi sẽ bị xẻ làm đôi như những sinh vật
này. Lễ nghi này là một giao ước rất cụ thể Chúa thực hiện với Abraham
và với mỗi người chúng ta. Danh dự của Chúa đả được đặt ngang hàng với
danh dự của chúng ta, một chi tiết quan trọng: Ông Abraham đă không đi
qua phần kia của sinh vật. Ông đả không kư kết giao ước, chỉ có một ḿnh
Thiên Chúa kư giao ước ! Thường th́ cả hai phải kư, cả hai phải đi qua
giửa các con vật đă được xẻ làm đôi. Bởi v́ cả hai phải tôn trọng giao
ước. Ông Abraham đă không hứa, chỉ một ḿnh Thiên Chúa hứa mà thôi.
Nghĩa là Abraham và mỗi người chúng ta không phải kư giao ước mà chỉ
phải phó thác cuộc đời ḿnh, hiện tại cũng như tương lai, vào ḷng trung
tín của Thiên Chúa. Oi ḷng thương xót Chúa thật nhiệm mầu. Nếu chúng ta
phải kư giao ước th́ chúng ta phải bị chặt làm đôi nhiều lần !
Vậy giao ước không chỉ nói về hiện tại,
tương lai của ḿnh. Mùa chay này nó c̣n gợi lên những việc làm đáng xấu
hổ của quá khứ mỗi người. Chúng ta đă phản bội ḷng trung tín của Thiên
Chúa rất nhiều lần. Nhưng hảy can đảm đứng dậy. V́ câu chuyện hôm nay
c̣n nói lên điều mà sau này Th.Phaolô khai triển rộng hơn trong Tân
ước:”Bởi v́ tôi biết chắc rằng dầu sự sống hay sự chết, dầu hiện tại hay
tương lai, dầu chiều cao hay chiều sâu, thiên thần hay ma qủy hoặc bất
cứ loài thọ tạo nào, không có thể tách chúng ta ra khỏi ḷng mến của
Thiên Chúa, thể hiện nơi Đức Kitô, Chúa chúng ta” (Rm.8,38-39).
Trong nghi lễ giao ước Thiên Chúa đảm
nhận bổn phận thực thi lời hứa và cũng tự nhận lấy lời nguyền rủa (hăy
để xảy ra cho tôi như vậy, nếu…). Chắc chắn Chúa se giải cứu chúng ta
khỏi tội. Không phải v́ chúng ta xứng đáng, nhưng chỉ v́ Ngài đă hứa.
Thiên Chúa là tác nhân chính trong qúa tŕnh giải phóng, chứ không phải
loài người. Ngài luôn trung tín, không bao giờ quên lời hứa. Thực tế
chính Thiên Chúa tuyên bố Ngài mắc nợ chúng ta về lời hứa. V́ thế trong
mùa chay này, chúng ta hăy chỗi dậy, ngẩng đầu lên, bởi lẽ ngày cứu rỗi
đă đến gần. Mỗi người sẽ được sạch tội, được biến h́nh trong Đức Giêsu
Kitô, Chúa chúng ta. Amen.
G. Nguyễn Cao Luật op
Tượng Đài Ánh Sáng
Lc 9, 28b-36
Chặng dừng chân
Trong mùa chay, sau tŕnh thuật Đức Giêsu
chịu cám dỗ trong hoang địa, phụng vụ đọc tiếp tŕnh thuật Đức Giêsu
biến h́nh đổi dạng. Điều này có một ư nghĩa đặc biệt. Quả thế, trong Tin
Mừng Lu-ca, các tŕnh thuật ông Phê-rô tuyên xưng Đức Giêsu là Đấng Kitô,
Đức Giêsu loan báo cuộc thương khó lần thứ nhất và Đức Giêsu biến h́nh
đổi dạng là một chặng dừng trong hành tŕnh lên Giêrusalem: Thành phố
này là đỉnh cao trong sứ vụ cứu thế của Đức Giêsu, đồng thời cũng là nơi
diễn ra cuộc cám dỗ cuối cùng, mà theo thánh Luca, sẽ xảy ra tại Đền Thờ.
Điều này có nghĩa là cuộc hành tŕnh lên Giêrusalem đầy những gian nan
vất vả. Đức Giêsu lên Giêrusalem như một vị tư tế bước lên những bậc cấp
của bàn thờ để tiến dâng hy lễ. Biến cố Đức Giêsu biến h́nh đổi dạng
trùng hợp với chặng dừng này, trong đó Đức Giêsu hiện diện trước Chúa
Cha, trong ánh sáng rực rỡ.
Chắc chắn v́ lư do này mà tác giả đă nhấn
mạnh, như trong nhiều biến cố quan trọng khác, rằng cuộc biến h́nh đổi
dạng đă diễn ra khi “Đức Giêsu đang cầu nguyện”. Người ta có thể
suy đoán được nội dung của lời cầu nguyện này. Đang khi những người bạn
đồng hành với Đức Giêsu ch́m trong giấc ngủ, cũng như sau này tại núi
Cây Dầu, th́ ông Mô-sê và ông Ê-li-a đàm đạo với Đức Giêsu “về cuộc
Xuất hành Người sắp hoàn thành tại Giêrusalem”. Trước khi tiếp tục
hành tŕnh lên đồi Canvê, Đức Giêsu đă trải qua một khoảnh khắc tuyệt
vời, trong đó ư nghĩa Người là Đấng Thiên Chúa tuyển chọn được bày tỏ
cách trọn vẹn. Nhờ vậy, Người sẵn sàng chấp nhận mầu nhiệm sắp xảy ra,
tức là cái chết và cuộc phục sinh của Người.
Hôm nay, ba môn đệ được nh́n thấy khuôn
mặt chói ngời ánh sáng của Đức Giêsu. Ít lâu sau, cũng ba ông được nh́n
thấy khuôn mặt khác của Đức Giêsu, khuôn mặt ướt đẫm mồ hôi và máu.
Người ta sẽ khạc nhổ vào khuôn mặt ấy, và đội lên trên đó một mạo gai.
Khi bị treo trên thập giá, Đức Giêsu sẽ kêu lên: “Lạy TC, lạy Thiên
Chúa của con, sao ngài bỏ rơi con?” (Mt 27,46), như thể TC đă bỏ rơi
Người. C̣n hôm nay, trong biến cố này, chính TC nói về Người: “Đây là
Con Ta, người đă được Ta tuyển chọn, hăy vâng nghe lời Người!” (Lc
9,35)
Nhỏ bé trước t́nh yêu
Đức Giêsu cùng với ba môn đệ đi cầu
nguyện. Ba người môn đệ này là những người thân tín nhất của Đức Giêsu
trong Nhóm 12. Biến cố này xảy ra tám ngày sau khi ông Phêrô tuyên xưng
Đức Giêsu là Đấng Kitô của Thiên Chúa.
Phản ứng của Đức Giêsu đă phần nào xô đổ
dự kiến của các môn đệ: câu chuyện kết thúc quá xấu và Đức Giêsu báo cho
các ông biết bí mật về cái chết của Người. Cái chết của Đức Giêsu phá vỡ
mọi chương tŕnh hành động của các ông. Người tuyên bố : “Con Người
phải chịu nhiều đau khổ, … bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại”.
Đức Giêsu luôn làm cho người ta bối rối, ngay chính lúc người ta
tưởng đă hiểu được Người.
Vậy, Đức Giêsu ra đi cùng với các ông
Phêrô, Giacôbê và Gioan. Các ông mệt mỏi nên ngủ thiếp đi, trong khi Đức
Giêsu cầu nguyện với Chúa Cha. Thật là không dễ dàng chút nào khi phải
sống chung với một Đấng Thánh, nhất là khi người đó lại là Đức Giêsu.
Tinh thần th́ nhanh nhẹn, nhưng xác thịt th́ nặng nề …
Th́nh ĺnh, niềm vui ùa tới, xóa tan điềm
xấu trước đó. Đức Giêsu ch́m trong ánh sáng, các ông chưa từng thấy bao
giờ. Các ông Môsê và Êlia đang đàm đạo với Người: toàn bộ lời Thiên Chúa
hứa với dân Ít-ra-en nay được thực hiện trong hạnh phúc khôn tả, như thể
mục đích đă đạt được.
Phấn khích trước niềm vui lớn lao, ông Phê-rô chẳng c̣n
lo lắng ǵ nữa. Ông muốn nắm lấy và giữ chặt món quà Thiên Chúa tặng
ban. Ông đă lên tiếng nói thay v́ lắng nghe Thiên Chúa, đấng đang đưa
ông vào trong đám mây, và xa hơn, đưa ông đến tiếp xúc Thiên Chúa. Thế
nhưng sau đó, nỗi sợ hăi đă xâm chiếm ông và hai người bạn. Các ông
không c̣n biết ǵ nữa. Đây không phải là nỗi sợ hăi so những sức mạnh ác
độc gây nên, nhưng là nỗi sợ hăi của con người trước mặc khải chói ngời
của Thiên Chúa. Con người cảm thấy nhỏ bé và tầm thường trước t́nh yêu
Thiên Chúa, t́nh yêu làm biến đổi cả thân xác.
“Đây là Con Ta, người được ta tuyển chọn, hăy vâng nghe lời Người !”
Sau đó, Đức Giêsu c̣n lại một ḿnh, trở
lại t́nh trạng b́nh thường như các ông vẫn thấy thường ngày, nhưng giờ
đây, các ông đă hiểu rơ hơn sự sâu xa tiềm ẩn nơi con người ấy.
Như thế, Thiên Chúa Cha đă bày tỏ ḷng ưu
ái dành cho các ông cũng là cho mọi người: trong cuộc sống b́nh thường
và gian nan của nhân loại, con người vẫn có thể nhận được ánh sáng rực
rỡ, t́nh yêu mănh liệt và b́nh an trong Đức Giêsu.
Cuối cùng, trong niềm tin và hy vọng, Đức
Giêsu muốn dẫn đưa loài người đến sự biến đổi tự bên trong, một món quà
hôm nay mới tỏ hiện một phần, và ngày sau được tỏ hiện trọn vẹn.
Cuộc hiển hiện mới
Mặc khải tại núi Xi-nai… Đức Giêsu biến
đổi h́nh dạng: hai biến cố này song đối với nhau. Biến cố Đức Giêsu biến
đổi h́nh dạng là một xác nhận về giao ước mới: dân chúng đi theo Đức
Giêsu (ở đây là các ông Phêrô, Giacôbê và Gioan, đại diện cho Nhóm
Mười Hai, tức là toàn thể các chi tộc Ítraen), đó là dân Ít-ra-en
đích thực của Thiên Chúa.
Trong biến cố này, tất cả các dấu chỉ về
Thiên Chúa được bày tỏ: đám mây, ngọn núi, màu trắng … đó là cuộc gặp gỡ
giữa Đấng Sáng tạo và thụ tạo của Người, cuộc gặp gỡ giữa trời và đất.
Tuy nhiên, cuộc gặp gỡ này c̣n có một ư nghĩa sâu xa hơn: hội ngộ giữa
Chúa Cha và Chúa Con.
Trong biến cố này, Đức Giêsu không lên
tiếng nói. Người ở trong vinh quang. Trước đây vinh quang này đă bao phủ
hai vị đại diện cho ḷng tin của Ít-ra-en, đó là các ông Mô-sê và Ê-li-a.
Giờ đây, vinh quang ấy tập trung nơi Đức Giêsu: hai vị ngôn sứ, trước
đây là tác viên chính, giờ đây chỉ là người chứng kiến.
Đang khi đó, các môn đệ của Đức Giêsu thiếp ngủ. Trong
thực tế, các ông ở bên ngoài những ǵ đang xảy ra và những ǵ vượt trên
các ông. V́ các ông sống trong giấc mơ của ḿnh, trong khát vọng của
ḿnh: chúng ta hăy định cư tại đây, hăy giữ chặt lấy Thiên Chúa. Thế
nhưng, ông Phê-rô “không biết ḿnh đang nói ǵ.”
Về phần ḿnh, Đức Giêsu vẫn im lặng.
Nhưng tiếng nói bí mật đă tuyên bố: “Hăy vâng nghe lời Người.” Có
nghĩa là: Hăy đón nhận mầu nhiệm! Hăy nghe theo Đấng mở ra con đường.
“Chỉ c̣n thấy một ḿnh Đức Giêsu.” Chỉ
c̣n lại một con người. Qua con người này, nhân loại phải tiếp tục nhận
ra vinh quang của Thiên Chúa.
Được t́nh yêu bao phủ
Biến cố Đức Giêsu biến đổi h́nh dạng đưa
chúng ta vào trung tâm của mầu nhiệm Đức Giêsu. Người thuộc ḍng dơi
những tôi tớ của Thiên Chúa, đă được các ngôn sứ của Thiên Chúa báo
trước. Như các tôi tớ khác, Người cũng bị loài người ruồng bỏ và chịu
đau khổ – đúng ra là hơn những người khác. Tuy nhiên, Người là Con chí
ái của Chúa Cha, và chính Người đến làm cho Hội Thánh được khai sinh.
Với biến cố này, chúng ta được mời gọi
trở nên giống Chúa Giêsu: những khuôn mặt âu lo và đau đớn, những khuôn
mặt buồn phiền và thất vọng được kêu mời biến đổi thành những khuôn mặt
rạng rỡ, vui tươi.
Thánh Phaolô viết: “Quê hương chúng ta
ở trên trời … Đức Giêsu Kitô có quyền năng khắc phục muôn loài, và sẽ
dùng quyền năng ấy mà biến đổi thân xác yếu hèn của chúng ta nên giống
thân xác vinh hiển của Người” (Pl 3,20-21). Từ nay chúng ta là anh
em với Đức Giêsu, cùng được bao phủ trong một t́nh yêu, t́nh yêu đă bao
phủ Đức Giêsu tại đồi Can-vê cũng như khi Người biến h́nh đổi dạng, t́nh
yêu đồng hành với chúng ta trong mọi thử thách của cuộc đời.
* * *
Ai có thể chỉ cho tôi
thấy khuôn mặt của Thiên Chúa
mà tôi hằng khát khao?
T́m đâu ra khuôn mặt này,
khuôn mặt không chỗ ở
và không có tuổi tác.
…
Đôi mắt của trẻ thơ
và ánh sáng lấp lánh của cḥm sao
cũng như ḍng suối tinh ṛng,
và những nét kỳ diệu khó hiểu của
thời gian
chỉ cho tôi thấy những bóng mờ
của khuôn mặt này.
…
Chỉ một người có thể cho tôi thấy
được
khuôn mặt của Thiên Chúa,
đó là nụ cười của một vị thánh trong
lần ra đi cuối cùng.
theo J. Vuaillat, 1975
Lm Giuse Đặng Chí
San
ÁNH SÁNG TRÊN ĐƯỜNG DÀI
MỎI MỆT
Mc 9, 28b
Thúy Kiều ơi, ghê quá, những bơ vơ thân
gái dặm trường, những cô liêu tàn bạo giữa đen rầm ngàn mây bạc phau cầu
giá, những bát ngát lạc loài khủng khiếp trong dặm khuya mù khơi ngất
tạnh. Chao ôi cuộc lữ kiếp người ! Cuộc lữ cũng là cô lữ ! Hun hút đường
dài ! Vó câu khấp khểnh ! Vó người th́ cà rịch cà tang, cà nhỏng cà nhơ,
cà lơ thất thểu. Lưu linh lưu địa măi trên mảnh đất xa lạ này để làm ǵ,
để về đâu ? Ai là kẻ cảm thông ? Ai là người đồng điệu ? Và tại sao hành
tŕnh diệu vợi và gian khó này, rồi ra, cuối cùng, cũng dẫn về NỖI CHẾT
?!
Mỗi người, giàu hay nghèo, đẹp hay xấu,
một khi đến cuộc đời này đều được (bị?) trao cho một cây THẬP TỰ. Cây
thập tự kiếp người ! cây thập tự gia đ́nh người yêu bố mẹ vợ chồng con
cái, cây thập tự nhân cách, tăm tiếng, danh dự giữa trăm vạn thứ nhí nhố
lũ người sống với nhau, cây thập tự của đủ mọi vấn đề cà chớn cà chua cà
khùng cà giật. Biết bỏ cho ai ? biết ném về đâu cho rảnh nợ ? Cứ phải
khư khư vác è cổ trên vai. Cứ phải khư khư gập người kéo lê kéo lết. Vác
cây thập tự phận người. Vác phận trâu ḅ gà ngựa kiếp người ! Vác măi
tưởng rồi cũng được kiếm chác chút ǵ, nào ngờ vẫn chỉ để về Đồi Sọ,
treo thây ḿnh lên, gục xuống mênh mông nỗi chết !
Bác Hai Giêsu ơi ! Bác là Ông Thiên Chúa
! Bác đến trần gian này, sao bác không hóa giải cái vèo cái phụp cho
xong ? Bác làm vài phép lạ đi ! Bác x́ ra vài “miếng vơ thượng thừa”
đi ! Thế là tụi tui hí húm nhẹ tênh, trên vai không c̣n gánh nặng ! Đàng
này, hoàn toàn không. Bác cứ như chúng tôi, lặng lẽ lúi húi mà đi, lặng
lẽ è cổ để cũng vác cây thập tự tổ bà kền mà tới ! Bác là Thiên Chúa, mà
sao cũng dúm dó ốm o so bại đến thế ! Bác là Thiên Chúa, mà sao cũng
liêu xiêu vẹo vọ khốn khổ phận người đến thế ! Bác c̣n nói rằng :
“Vác thập giá đời ḿnh mà theo Tui”! Chao ôi ! vác thập giá đời ḿnh
mà theo Giêsu về Đồi Sọ ! Lắm khi chúng tôi chịu không nổi nữa ! Nh́n
Bác, chúng tôi càng thấy oải hơn thôi !
Th́ đây, hôm nay, để trợ đỡ cho sự hời
hợt của chúng tôi, để cho thấy Huyền Nhiệm dấu sâu ẩn kín trong tâm của
Bác, Bác đành phải toả ra một chút ánh sáng nhiệm mầu ! Bác là nơi dồn
tụ của biến cố vui buồn hợp tan lịch sử khi Moise và Elia đứng kề bên !
Bác là Ư nghĩa và Giá trị của hành tŕnh cô lữ trần gian khi Ánh Sáng
toả ngời ngời xuyên tà áo bụi đường tơi tả. Nhưng dù sao, th́ Bác vẫn
măi là người đồng hành, đồng phận, khi Cha vẫn cất tiếng nói : “Đây
là Con yêu dấu của Ta, con đẹp ḷng Ta mọi đàng”, nghĩa là, để trở
thành Đấng Cứu Độ, Bác vẫn phải thi hành thánh ư Chúa Cha, làm người tôi
trung đau khổ của Giavê. Bác phải lịch nghiệm cho hết hành tŕnh đau khổ,
uống cho cạn chén đắng phận người. Và chỉ như thế, chúng tôi mới có thể
GIÁC NGỘ được rằng, từng tiếng nấc, từng giọt máu, và từng giọt nước mắt
mặn chát trần gian, tất cả qua Bác, đều trở thành Mầu Nhiệm, đều có thể
chan ḥa Ánh Phục Sinh.
Quả là chúng tôi vẫn chờ mong một Giêsu
rực rỡ, Giêsu vinh vang, Giêsu phép tắc giải quyết mọi sự cái vèo, cái
rụp. Chúng tôi muốn trốn chạy thân phận của ḿnh. Chúng tôi muốn giải
quyết đời ḿnh tưng tưng trên bề mặt. Chúng tôi nào biết được CHƯƠNG
TR̀NH T̀NH YÊU CỨU ĐỘ của người Tôi Trung Thiên Chúa chỉ là lặn xuống,
ch́m xuống, mang vác Cây Thập Tự Đời trên vai, để đồng hành, đồng phận
với những kiếp người cô lữ ! Chúng tôi rất ít khi mở rộng tâm hồn để
thấy, để đón nhận và thể hiện được giá trị của CẢM THÔNG, của YÊU THƯƠNG,
vốn chỉ “mạc khải” ra cách nhiệm lạ trong đói khát, mệt mỏi, cô
liêu, đau khổ.
Thôi th́, trong những giây phút tịch mịch
lặng thầm trên núi thẳm hồn ḿnh, trong những giây phút mà lời cầu
nguyện hiệp nhất đưa chúng tôi ch́m vào trong Huyền Nhiệm Giêsu, có lẽ,
đôi khi, chúng tôi cũng sẽ THẤY ĐƯỢC VINH QUANG của CON NGƯỜI GIÊSU và
cũng là VINH QUANG CỦA CHÍNH CHÚNG TÔI, trong Giêsu Ngôi Lời Nhập Thể.
Thế nhưng, điều quan trọng hơn gấp bội phần, vẫn là xuống núi. Xuống núi
và dám đi lên Đồi Sọ. Xuống núi và dám gánh vác thân phận của ḿnh như ư
nghĩa và giá trị của T́nh yêu, của Cảm thông, của nâng niu thương mến
trao Đời, trao nhau. Và tất cả hành tŕnh gập ghềnh khúc khuỷu đó, ngay
cả trên Đồi Sọ phận người ấy, Giêsu vẫn toả một Ánh Quang Thầm Lặng :
Ánh Quang T́nh Yêu Xoá Ḿnh của Thiên Chúa.
Giacôbê Phạm Văn Phượng op
Đau khổ và vinh quang
Lc 9, 28b-36
Trong truyền thống Kinh Thánh cũng như
trong hầu hết các tôn giáo, núi cao thường được xem như là nơi gặp gỡ
giữa trời và đất, giữa thần linh và con người. V́ thế, chúng ta thấy hầu
hết những mặc khải quan trọng trong Kinh Thánh đều diễn ra trên núi cao.
Chẳng hạn, ông Mô-sê đă được kêu mời lên núi Si-nai để gặp gỡ Thiên Chúa
và đón nhận lề luật cho dân riêng, ông Ê-li-a đă ḍng dă 40 đêm ngày lên
núi Hô-rép để gặp Chúa, ông Ê-li-sa cũng lên núi Các-men để gặp Chúa, và
Chúa Giê-su cũng khởi sự đời sống công khai bằng 40 đêm ngày chay tịnh
trên núi cao, rồi trong 3 năm sứ vụ, Ngài vẫn thường lặng lẽ một ḿnh
lên núi để cầu nguyện.
Trong bài Tin Mừng hôm nay, chúng ta thấy
Chúa Giê-su cũng đưa 3 môn đệ thân tín nhất lên núi Ta-bo để tỏ vinh
quang của Ngài. Từ trên núi cao, các ông đă nhận ra được con người và sứ
mạng của Chúa, các ông thấy vinh quang của Ngài như một lời hứa được
thực hiện, như thành tựu của một sứ mệnh, như đích điểm của một con
đường, con đường thập giá dẫn đến vinh quang.
Thế nhưng người ta không lên núi cao để ở
lại đó mà là để nh́n rơ hơn con đường phải đi. Đối với Chúa Giê-su, con
đường đó chính là cái chết đang chờ đợi Ngài, và Ngài đă xuống núi để
giáp mặt với cuộc đời, để tiếp tục hành tŕnh xuyên qua khổ nạn và cái
chết thập giá. Từ trên núi cao, Chúa Giê-su cũng muốn đưa các môn đệ
thân tín trở lại với cuộc đời, trở lại với những thử thách, chống đối,
nói tắt là đau khổ, đang chờ đợi trước mắt.
Trong hành tŕnh đức tin, cũng có những
giây phút chúng ta được đưa lên núi cao để gặp Chúa : núi cao của thánh
lễ, của khung cảnh đạo đức; núi cao của những giờ phút dành cho việc cầu
nguyện. Nhưng chúng ta không lên núi để ở đó măi mà là để trở lại với
cuộc đời với muôn thử thách, đắng cay... Chấp nhận cuộc sống với tinh
thần lạc quan, chấp nhận chiến đấu mà không buông xuôi bỏ cuộc, sống như
thế là tiếp tục con đường Chúa Giê-su đă đi qua. Chấp nhận những người
anh em chúng ta gặp trên đường đi, chấp nhận những khác biệt, những bất
toàn của người anh em cùng đồng hành. Sống như thế là dơi bước theo
đường Chúa đă đi qua.
Chúng ta cũng nhận ra một điều khác nữa,
đó là cuộc sống ở trần gian này lúc nào cũng có đau khổ. Vậy điều quan
trọng không phải là tránh đau khổ mà chính là cách thức chúng ta đáp lại
chúng, cách thức chúng ta xử lư chúng. Nếu chúng ta chán nản, buông xuôi,
thất vọng th́ đau khổ càng đè nặng trên chúng ta, ngược lại, nếu chúng
ta bắt chước Chúa Giê-su can đảm cúi xuống nâng chúng lên, th́ chúng ta
sẽ biến chúng thành năng lực tích cực, thành nguồn ban sức sống. Bởi v́
chính những đau khổ ấy sẽ biến đổi chúng ta thành người tốt hơn, nhiệt
t́nh hơn, khiêm tốn hơn, biết từ tâm hơn và biết thông cảm kẻ khác hơn.
Để sống được như thế, đ̣i hỏi chúng ta phải có đức tin, bởi v́ đức tin
như con mắt thần hướng chúng ta đến một cách sống b́nh an, phó thác,
nh́n đau khổ và cái chết như những phương tiện dẫn đến vinh quang.
Thực vậy, đức tin giúp chúng ta sẵn sàng
đón nhận đau khổ, vững ḷng khi gặp đau khổ và chiến thắng đau khổ để
đạt tới một mục đích cao đẹp hơn. Cụ thể, trong bài Tin Mừng hôm nay,
khi thấy các môn đệ quá sợ đau khổ, không muốn chấp nhận cuộc khổ nạn
của Chúa, nên Chúa đă hé mở vinh quang của nước Thiên Chúa để hun đúc
cho các ông một niềm tin, một hy vọng để sống. Một đức tin mà Chúa đ̣i
hỏi các ông phải có nếu muốn dự phần vinh quang với Ngài. Như thế, có
thể nói, đức tin là nhân và vinh quang là quả, giúp chúng ta nhận chân
giá trị mọi đau khổ trên trần gian này, để từ đó chúng ta can đảm, sáng
suốt đón nhận và giải quyết mọi thử thách đến trong đời sống hằng ngày.
Có một câu nói diễn đạt kinh nghiệm sống
đạo, sống niềm tin trong đau khổ thật sâu xa, đó là “khi Thiên Chúa đóng
cửa chính th́ Ngài mở ra cửa sổ”. Thiên Chúa đóng cửa chính là khi chúng
ta gặp thử thách, đau khổ, không c̣n có thể nh́n thấy ánh sáng, sự hiện
diện đầy quan pḥng của Thiên Chúa. Đó là khi Thiên Chúa xem ra như bỏ
rơi, mặc chúng ta đương đầu với thử thách, khó khăn. Lúc đó chúng ta cần
nhớ : Thiên Chúa, Ngài sẽ mở ra cửa sổ, mở ra một lối thoát, một giải
đáp, một hướng đi mới cho cuộc đời chúng ta.
Chẳng hạn, Thiên Chúa đóng cửa chính
trong cuộc đời chúng ta, khi chúng ta trải qua cơn bệnh nặng, th́ Ngài
lại mở ra cửa sổ, cho chúng ta gặp thầy gặp thuốc để chữa lành. Thiên
Chúa đóng cửa chính khi chúng ta bị mất mát, thua thiệt, nhưng Ngài lại
mở ra cửa sổ khi cho chúng ta gặp được những tâm hồn quảng đại sẵn sàng
giúp chúng ta bắt đầu lại cuộc đời.
Thiên Chúa đóng cửa chính nhiều lần trong
cuộc đời mỗi người, nhưng đồng thời Ngài cũng mở ra những cửa sổ để
hướng chúng ta đến một điều tốt đẹp hơn mà trước đó chúng ta không ngờ.
Những kinh nghiệm đau thương, tiêu cực mà chúng ta gặp phải trong cuộc
đời, đôi khi đó là tiếng nói của Thiên Chúa để mời gọi chúng ta bước ra
khỏi một hoàn cảnh không tốt đẹp, để chuẩn bị chúng ta sẵn sàng hơn đón
nhận những hồng ân mới. V́ thế, khi gặp thử thách, đau khổ, chúng ta
đừng bao giờ chán nản, thất vọng, nhưng hăy tin tưởng và cầu nguyện,
càng phải cầu nguyện nhiều hơn b́nh thường, để xin thêm đức tin và kiên
nhẫn. Tin tưởng và kiên nhẫn, v́ khi Thiên Chúa đóng cửa chính, Ngài sẽ
mở ra cửa sổ.
Tađêô Hồ Vĩnh Thịnh op
Thưa Thày Chúng Con Ở Đây
Thật Là Hay
Lc 9, 28b-36
Con người được dựng nên để thông phần vào
t́nh yêu và vinh quang Thiên Chúa. Chính v́ vậy t́nh yêu và vinh quang
này là niềm khao khát mong đợi của mọi người. Thánh Augustinô đă tâm sự
: “Lạy Chúa, Chúa đă dựng nên con cho Chúa, và chúng con vẫn c̣n khắc
khoải bao lâu chưa được nghỉ ngơi trong Chúa”. Bài tin mừng hôm nay kể
lại cuộc hiển dung của Chúa. Đây là lần đầu tiên các môn đệ được chiêm
ngưỡng thân xác phục sinh của Đức Giêsu. Cuộc hiển dung này được ông
Môsê và ông Êlia, hai người phát ngôn của Lề Luật và ngôn sứ, và cũng là
hai nhân vật tiêu biểu của Cựu Ước làm chứng.
Như xưa kia, Thiên Chúa đă đưa hai ông
Môsê và ông Êlia lên núi để trở thành chứng nhân cho vinh quang Thiên
Chúa, th́ hôm nay, các tông đồ cũng được Chúa Giêsu dẫn lên núi và biểu
lộ vinh quang cho họ. Được chiêm ngưỡng vinh quang Thiên Chúa ḷng trí
các tông đồ ngất ngây. Phêrô thưa với Chúa nhưng ông không biết ḿnh
đang nói ǵ. Lời nói của ông là phản ứng của vô thức. Thế nhưng chính
phản ứng này lại cho ta thấy sức hấp dẫn của vinh quang Thiên Chúa : “Thưa
Thầy, chúng con ở đây thật là hay”. Được diện kiến thánh nhan Thiên
Chúa, các tông đồ không c̣n muốn ǵ hơn là được luôn chiêm ngưỡng vinh
quang đó. Thế nhưng, thời gian chưa cho phép. Các ông c̣n phải xuống núi
để tiếp tục rong ruổi và làm chứng cho vinh quang của Thầy.
Cuộc hiển dung cho các tông đồ thấy trước
thân xác phục sinh của Chúa Giêsu. Đó cũng sẽ là thân xác chúng ta sau
cuộc lữ hành trần thế này. Thánh Phao lô đă khuyên chúng ta qua các tín
hữu Philipphê rằng : “Quê hương chúng ta ở trên trời, và chúng ta
nóng ḷng mong đợi Đức Giêsu Kitô từ trời đến cứu chúng ta. Người có
quyền năng khắc phục muôn loài, và sẽ dùng quyền năng ấy mà biến đổi
thân xác yếu hèn của chúng ta nên giống thân xác vinh hiển của Người.”
(Pl 3, 20-21). Do đó chúng ta có quyền hy vọng.
Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể,
Con người ngày nay đang đánh mất dần
những giá trị căn bản và thiêng liêng. Tiền tài, danh vọng, quyền lực là
những thứ con người đang hướng tới ; trong khi những giá trị nhân bản,
đạo đức và tinh thần đang bị lu mờ. Con người lấy sự hưởng thụ ở trần
gian này làm mục đích thay v́ hướng về những giá trị đích thật trên quê
trời. Xin Chúa hướng dẫn để chúng con biết xếp đặt lại các bậc thang giá
trị và can đảm chọn lựa những ǵ mang lại sự bảo đảm cho cuộc sống mai
này.
Giờ đây, chúng con đang quây quần trước
Thánh Thể. Chúng con tin rằng Chúa đă dẫn chúng con đến đây như xưa kia
đă dẫn các môn đệ lên núi. Sự hiện diện của chúng con cũng như sự hiện
diện của các tông đồ. Chúng con đang chiêm ngưỡng Thánh Thể Chúa. Xin
cho mỗi người chúng con ư thức sâu xa sự hiện diện này. Xin Ngài chạm
đến chúng con để chúng con không c̣n lo nghĩ ǵ khác nhưng được ch́m
ngập trong vinh quang Ngài. Xin Chúa tuôn đổ đầy tràn t́nh yêu trên tâm
hồn chúng con để lát nữa đây chúng con cũng “xuống núi”. Chúng con sẽ
trở thành những chứng nhân cho Ngài ngay trong gia đ́nh, trong cộng đoàn
và trong môi trường sống của chúng con. Amen.
Đỗ Lực op
ĐỒNG
H̀NH HAY BIẾN H̀NH
(Lc 9:28b-36)
Mùa Chay là cơ hội giúp tín hữu cố gắng
đi sâu vào mầu nhiệm Thánh giá và Phục sinh. Thế nhưng, đó cũng là dịp
truyền thông Hoa kỳ tung ra cuốn phim tài liệu “Ngôi Mộ Thất Lạc của Đức
Giêsu.” Mục đích phủ nhận sự kiện Phục sinh và xóa bỏ niềm tin Kitô
trong ḷng hai tỉ tín hữu trên thế giới. Phải chăng đó là lần đầu tiên
kỹ nghệ phim ảnh hợp tác với khảo cổ học lũng đoạn và phá hủy các giáo
hội Kitô ? Nếu sự thật đúng như họ công bố, chẳng c̣n ǵ để nói về biến
cố Hiển dung hôm nay. Ánh sáng Hiển dung chỉ có ư nghĩa và giá trị khi
dẫn đến ánh sáng Phục sinh mà thôi.
Sự thật vẫn là sự thật. Các nhà khảo cổ
Do thái hoàn toàn bác bỏ tài liệu khảo cổ đó, v́ chứng cứ mâu thuẫn. Sự
kiện Chúa Giêsu Phục sinh đă được năm tŕnh thuật dẫn chứng nghiêm nhặt
trong Tân Ước về những lần Chúa hiện ra: bốn tŕnh thuật trong Tin Mừng
và một do thánh Phaolô. Các môn đệ đă làm chứng và hy sinh mạng sống v́
Chúa Phục sinh.[i]
Cách đây hơn hai ngàn năm, các tông đồ đă
trải qua những thách đố lớn lao khi Đức Giêsu sửa soạn bước vào những
ngày đen tối nhất cuộc đời. Mấy ai vững bước trong đêm trường ?! Bởi thế,
Đức Giêsu muốn dẫn các môn đệ thân tín nhất là Phêrô, Giacôbê và Gioan
lên núi cao để chứng kiến tất cả vinh quang và cảm nghiệm mối thâm t́nh
giữa Chúa Cha và Chúa Con. Nhờ đó, họ thấy được tất cả nền tảng niềm hy
vọng đă đặt nơi Đức Giêsu.
C̣n hơn thế, họ được phép đi vào tương
quan thâm sâu giữa Cha Con. Quả thực, họ như lạc vào trong đám mây, tức
là sống giữa sự hiện diện của Thiên Chúa. Họ đă ra khỏi môi trường sống
b́nh thường của trần thế. Họ lọt vào thế giới Thiên Chúa. Đó là lư do
tại sao “các ông hoảng sợ.” (Lc 9:34) Mới nh́n thấy “vinh quang của Đức
Giêsu,” (Lc 9:32) chiếu tỏa rực rỡ giữa hai ông Môsê và Êlia, ông Phêrô
đă lạc giọng và không kiểm soát nổi ḿnh. Vậy khi các ông chiêm ngắm và
sống mầu nhiệm Thiên Chúa trên đỉnh non cao, bút mực nào có thể diễn tả
?
Khi được đưa vào cơi Thiên Chúa, các ông
mới thấy nguyên h́nh Đức Giêsu. Ánh sáng lúc này phải tăng tới độ vô
cùng mới diễn tả được vinh quang và địa vị Con Thiên Chúa của Đức Giêsu.
Lúc này không phải Đức Giêsu tự làm chứng nữa, nhưng chính Chúa Cha xác
nhận địa vị cao cả vô cùng của Chúa Con. Không có lời chứng nào chính
xác và giá trị hơn ! T́nh yêu Chúa Cha mănh liệt đến độ Chúa Con đă “lọt
mắt xanh” Chúa Cha, được tuyển chọn để trở thành Thiên Sai giữa trần thế.
Như thế, khi xuống trần gian, Đức Giêsu
đă được Chúa Cha tin tưởng tuyệt đối, đến nỗi trở thành mẫu mực và phát
ngôn chính thức của Chúa Cha. Tin tưởng tuyệt đối đến nỗi Chúa Cha phải
phán với các môn đệ : “Hăy vâng nghe lời Người !” (Lc 9:35) Con tim Chúa
cũng có cùng một nhịp đập khi nghe tiếng nói tương tự của Đức Mẹ trong
tiệc cưới Cana : “Người bảo ǵ, các anh cứ việc làm theo !” (Ga 2:5)
Uy thế Chúa Giêsu chưa bao giờ lên cao
như vậy. Nếu muốn lên cao như Chúa, các môn đệ cũng phải biến h́nh nhờ
sức mạnh thần khí và sự sống Thiên Chúa, tức là Lời Chúa (x. Ga 6:63) .
Đó là lư do tại sao Chúa Cha truyền cho các môn đệ phải vâng giữ Lời
Chúa. Lời Chúa sẽ thực hiện cuộc biến đổi sâu xa và toàn diện nơi những
ai thực tâm sống Lời Chúa. Cuộc biến đổi này cũng giống như việc Chúa
biến h́nh hôm xưa.
Cuộc biến h́nh này mau qua. Cuộc biến
h́nh và hiển vinh miên viễn chỉ đến qua những đau khổ của Đức Giêsu, một
đề tài được trao đổi giữa Chúa và hai vị khách từ thiên giới (Lc 9:31).
“H́nh như các thánh sử cũng cho thấy sự liên kết giữa những đau khổ và
vinh quang của Đức Kitô, v́ cuộc Biến h́nh được đặt trong bối cảnh lời
tiên báo đầu tiên về cuộc Thương khó, cái chết và sự Phục Sinh (Mt
16:21-23; Mc 8:31-33; Lc 9:22).”[ii]
Nếu cuộc Thương khó và cái chết chứng tỏ Đức Kitô đă “hoàn toàn trút bỏ
vinh quang” (Pl 2:7) Thiên Chúa, th́ biến cố Hiển dung và Phục Sinh mạc
khải Đức Giêsu là Đức Chúa. Người đến thực hiện những Lời Kinh Thánh (x.
Lc 24:44-48) và lời các tiên tri về Đấng Thiên Sai, Đầy Tớ Đức Giavê và
Con Người. Qua Đức Giêsu, Thiên Chúa thực hiện những điều đă hứa và đến
ở giữa dân Người. Đồng thời, biến cố Hiển dung xác nhận lời tuyên xưng
đức tin của Phêrô tại Cesarea Philiphê (Mt 16:16). Ánh sáng Hiển dung
c̣n mạc khải Con Người Đức Giêsu có cùng một vinh quang với Thiên Chúa
Cha.
Muốn chung hưởng vinh quang với Đức Giêsu,
Kitô hữu phải gặp gỡ Người trong bí tích và tham dự vào mầu nhiệm sự
chết và Phục sinh của Người, một mầu nhiệm được báo trước trong biến cố
Hiển dung hôm nay. Ngay bây giờ, Kitô hữu phải luôn luôn và không ngừng
để Chúa Thánh Linh tác động (2Cr 3:18) hầu hoàn toàn biến h́nh, đợi ngày
phục sinh vinh quang của toàn thể vũ trụ khi Chúa đến lần thứ hai. Trước
khi vui hưởng vinh quang cuối cùng, và được biến h́nh với Đức Kitô, họ
phải nên đồng h́nh (đồng dạng) với Người. Dù sống trong một thế giới đầy
đau khổ và thập giá, Kitô hữu vẫn hy vọng và hoàn toàn xác tín Chúa
Thánh Thần đang hoạt động mănh liệt để chiến thắng Satan và đạt vinh
quang cuối cùng trong cuộc biến h́nh hoàn toàn.[iii]
Chính v́ thế, đúng như thánh Phaolô nói (Rm
3:35), không ǵ có thể làm cho Kitô hữu tuyệt vọng. Tuy không phải là
tông đồ được lên núi với Chúa, nhưng được “một luồng ánh sáng từ trời
chiếu xuống bao phủ,” (Cv 22:6) Thánh nhân đă biến h́nh hoàn toàn. Một
cuộc lột xác tận bên trong và toàn thể cuộc sống ! Từ đó, mặc dù phải ba
ch́m bảy nổi chín lênh đênh, ông vẫn luôn rao giảng Tin Mừng. Ngay cả
lúc ngồi tù, ông vẫn hô hào mọi người : “Vui lên anh em !” (Pl 4:4) Lúc
trước, suốt ngày mặt ông đằng đằng sát khí với các Kitô hữu. Từ khi trở
nên đồng h́nh (đồng dạng) với Chúa Kitô, ông đă t́m thấy niềm vui và
b́nh an thực sự. Lư do v́ ông đă biết lắng nghe và vâng lời Con Chí Ái
của Chúa Cha.
Có nhiều môn đệ chưa đau khổ bằng thánh
Phaolô, nhưng cuộc đời đầy ắp u buồn. Nh́n lại quá khứ, tôi thấy những
mảnh đời không đồng h́nh (đồng dạng) với Chúa Kitô. Bởi đó, tôi không
thể biến h́nh với Thày Chí Thánh. Ánh sáng Hiển dung chưa chiếm trọn con
tim, làm sao con mắt nh́n thấy Thiên Chúa đang hiện diện nơi từng anh em
? Niềm tin non nớt chỉ sinh ra cay đắng. Nếu có đức tin bằng hạt cải,
tôi đă có thể nh́n thấy hồng ân trong tất cả. Nếu tôi lên núi với Người,
cuộc đời đă tràn ngập niềm vui. V́ ngại lên núi biến h́nh với Chúa, tôi
đă không thể vận dụng mọi lẽ thuận nghịch trong cuộc sống và không vượt
qua được đêm tối trần gian.
Ngày xưa, đứng trước thực tế đầy nguy
hiểm và éo le, Chúa Giêsu đă đưa các môn đệ thân tín nhất lên núi chiêm
ngưỡng Chúa biến h́nh. Chắc chắn khi được đám mây bao phủ, các ông đă
cùng “biến h́nh” với Chúa. Trước và sau cuộc biến h́nh này, Chúa đều kêu
gọi các môn đệ hăy đồng h́nh. Nếu không biến h́nh với Chúa, liệu các ông
có đồng h́nh được không ? Nhưng nếu không đồng h́nh (đồng dạng) với Chúa,
các ông có thể biến h́nh trong ánh sáng Phục sinh không ? Biến h́nh hay
đồng h́nh, sự kiện nào xảy ra trước ?
Thực tế, Chúa chỉ chọn ba tông đồ lên núi
mà thôi. Như thế chỉ có một phần tư trong số tông đồ đoàn được may mắn
chiêm ngưỡng Chúa Hiển dung. Ba phần tư c̣n lại cũng phải vác thập giá
theo Thày và chia sẻ chén đắng suốt cuộc đời. Tại sao những ông này
không được vinh dự và hạnh phúc như ba vị kia ? Họ sẽ lấy sức mạnh ở đâu
để trung thành với Thày tới cùng ?
Tin Mừng nói rơ Chúa hiển dung đang lúc
cầu nguyện (x. Lc 9:29). Trong cầu nguyện Chúa đă hiệp thông sâu xa với
Chúa Cha. Những biến đổi bên ngoài dung mạo và y phục diễn tả phần nào
cuộc hiệp thông đó. Chẳng lẽ các tông đồ không thay đổi ǵ sau bao lần
chứng kiến và cùng cầu nguyện với Chúa ? Chính trong lời cầu nguyện, các
ông đă được biến h́nh sâu xa để có thể đồng h́nh (đồng dạng) với Chúa
trong cuộc đời. Bởi thế, Chúa mới dạy chúng ta phải cầu nguyện không
ngừng (x.Lc 21:36). Nhờ cầu nguyện, chúng ta biến h́nh giống như Chúa.
Lạy Chúa, xin cho con lên núi với Chúa.
Giữa cuộc sống đầy tăm tối hôm nay, xin Chúa ban cho con ngày càng nên
đồng h́nh với Con Chúa, để con có thể biến h́nh trong vinh quang Phục
sinh. Amen.
[i]
Tgm Bruno Forte, Zenit 01.03.2007.
[ii]
New Catholic Encyclopedia 2003:154.
|