| |
Chúa Nhật Phục
Sinh 06 - Năm C
Cv 15,1-2. 22-29 / Kh 21,10-14.
22-23 / Ga 14,23-29
Lm An Phong op
: Đừng Sợ
G. Nguyễn Cao Luật, op : Thần Khí Trên Mọi Xác
Phàm
Fr Jude Siciliano,OP. : B́nh An Của Đức Kitô
Fr Jude Siciliano,OP. : Hoa Quả Của thánh Thần (Ga
14, 23-29)
Giacôbê Phạm Văn Phượng op : Bằng chứng của t́nh
yêu
Fr Jude Siciliano,OP
: Thần Khí Chúa Ngự Trên Tôi
Đaminh Tạ Văn Tịnh op : Ai Yêu Mến Thày Hăy Giữ
Lời Thày
Đỗ
Lực op : Một Biến Cố Ư Nghĩa
Lm An Phong op
Đừng
Sợ
Ga 14,23-29
Bối cảnh của Tin mừng Chúa nhật 6 Phục
sinh năm C là : Khi Đức Giêsu sắp sửa giă từ các môn đệ, Người không
muốn để các ông "xao xuyến và sợ hăi". Người hứa : "Đấng phù trợ là
Thánh Thần mà Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy sẽ dạy các con mọi điều".
Người c̣n ban cho các ông b́nh an "không như thế gian ban tặng", đồng
thời Đức Giêsu cũng hứa sẽ trở lại với các ông sau này.
"Thầy ban b́nh an của Thầy cho các con
không như thế gian ban tặng". Sứ điệp chính yếu của Đấng Phục sinh chính
là b́nh an.
Vào thời Đức Giêsu, "Pax Romana" – b́nh
an của Roma – là câu nói nổi tiếng và là niềm kiêu hănh của chính quyền
Rôma. Chính quyền Rôma đă hănh diện v́ trong suốt gần hai thế kỷ họ đă
"ban b́nh an của người thắng trận cho các nước chư hầu". Họ đă giảm tối
đa các cuộc xung đột giữa các nước chư hầu với nhau, đồng thời họ cũng
dẹp bỏ được những cuộc nỗi loạn chống đối chính quyền Rôma. Đó chính là
b́nh an dựa trên nỗi sợ hăi của các nước chư hầu, của các nước bị đô hộ.
Đó chính là b́nh an của "quyền lực tối thượng" áp đặt để cho xă hội chư
hầu luôn bị lệ thuộc. Đó chỉ là b́nh an v́ sợ hăi, b́nh an "của thế gian
ban tặng".
Trong đời thường mỗi ngày, chúng ta có
thể bắt gặp được thứ b́nh an này tại đây đó. Nó được thể hiện dưới muôn
h́nh vạn trạng. Trong một thế giới "chiến tranh lạnh", chúng ta ít thấy
những cuộc xung đột vũ trang. Các quốc gia đă cố để thỏa thuận, dàn xếp
bằng con đường ngoại giao. Trong một gia đ́nh "b́nh an" theo kiểu này,
nơi đó có thể có sự độc đoán của người gia trưởng làm cho mọi thành viên
sợ hăi. Mọi người tránh né nhau để không gây đỗ vỡ. Họ không c̣n nói
chuyện chân thành với nhau được. Thật là sự b́nh an "chết chóc". Chúng
ta cũng có thể bắt gặp một người "b́nh an". Họ cười đùa vui vẻ bên ngoài
để che giấu những lo âu, khắc khoải bên trong... Sự b́nh an "bên ngoài"
đôi khi chỉ là sự thinh lặng chết chóc, tuyệt vọng... , "b́nh an của nỗi
thống khổ".
Nhưng b́nh an của Đức Giêsu th́ khác hẳn.
Đó chính là b́nh an của tâm hồn. Sự b́nh an phát xuất từ niềm tin sâu xa
vào Thiên Chúa. Đó chính là b́nh an của "Thiên Chúa ở cùng chúng ta".
Chúng ta có thể bắt gặp được sự b́nh an này nơi những ai "yêu mến Thầy,
giữ lời Thầy, Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy và Chúng Ta sẽ đến và ở trong
người ấy" (c. 23). Một gia đ́nh b́nh an, hạnh phúc sâu xa, dường như là
nơi các thành viên trong đó thường mỉm cười với nhau, họ không cần "nhiều
lời". Họ vui hưởng những khoảnh khắc thinh lặng, ấm áp. Gia đ́nh Thánh
Gia là một điển h́nh. Nơi đó có sự b́nh an đích thực, sự b́nh an nội tâm
sâu xa.
Nhưng để có được
b́nh an này, chúng ta cần đến Chúa Thánh Thần. Người sẽ dạy dỗ và nhắc
nhở chúng ta những ǵ Đức Giêsu đă nói. Đôi khi, chúng ta phải "trả giá".
Chính Đức Giêsu đă hứa ban b́nh an này cho các môn đệ khi Người loan báo
thế gian sẽ ghét và bách hại các ông cũng như họ đă ghét và bách hại
chính Người.
Phải chăng chúng ta chấp nhận "trả giá"
để có được b́nh an của Đức Giêsu ?
Lạy Chúa,
Xin dạy chúng con biết thưởng thức thinh
lặng của Chúa
khi bóng đen rập ŕnh và ánh lửa tàn dần.
Xin cho lời cầu nguyện của chúng con
ấm cúng như căn nhà chúng con ở,
để b́nh an của Chúa cư ngụ nơi đây.
Pierre Emmaud
G. Nguyễn Cao Luật, op
Thần Khí Trên Mọi Xác Phàm
Ga 14,23-29
Cùng một mái nhà
“Cha của Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với
người ấy.”
Những lời này của Đức Giêsu được coi như
kết thúc cho chặng đường dài. Ở đây, Thiên Chúa hoàn tất công cuộc t́m
kiếm. Cánh cửa thiên đàng, lâu nay vẫn đóng kín và do các thần sứ canh
giữ, nay đă được mở rộng.
Kể từ thời A-đam và E-va, Thiên Chúa và
con người mỗi bên có nơi ở riêng, rất xa nhau.
Khi Đức Chúa xuất hiện tại núi Xi-nai,
dân chúng đứng ở phía xa. C̣n tại nơi Cực Thánh của đền thờ
Giê-ru-sa-lem, là nơi Đấng Tối Cao ngự, th́ không ai được vào, trừ ra vị
Thượng tế, và chỉ một năm một lần.
Tuy nhiên, Thiên Chúa vẫn tiếp tục làm
quen với con người. Các ngôn sứ cảm thấy rất rơ sẽ đến lúc diễn ra cuộc
gặp gỡ này. Ngôn sứ Xô-phô-ni-a tuyên bố: “Đừng sợ … Đức Chúa Thiên
Chúa của ngươi đang ngự giữa ngươi” (3,16). C̣n ngôn sứ Ê-dê-ki-en
xác định: “Nhà của Ta sẽ ở giữa chúng” (3,27), và ngôn sứ Da-ca-ri-a
quả quyết: “Này Ta đang đến để ở lại giữa ngươi” (2,14).
Về phần ḿnh, thánh Gio-an biết rằng
không bao giờ Thiên Chúa là “người tố cáo” con người. Trái lại,
Người là “Đấng bênh vực” họ, là “Đấng an ủi” họ. Sách Khải
Huyền loan báo b́nh an v́ kẻ thù đă bị tống ra ngoài: “Con Măng Xà bị
tống ra, đó là Con Rắn xưa, mà người ta gọi là ma quỉ hay Xa-tan … kẻ tố
cáo anh em của ta, ngày đêm tố cáo họ trước ṭa Thiên Chúa, nay bị tống
ra ngoài” (Kh 12,9-10).
Từ nay, cùng với Đức Giêsu, nhân loại có
thể hội nhập vào trong sự sống của Ba Ngôi Thiên Chúa. Con người lại
được chung sống với Thiên Chúa trong cùng một mái nhà.
Tuy nhiên, đây quả là một điều khó khăn !
Dường như TC vẫn đến gặp con người quá sớm. Ông Phê-rô đă thưa với Đức
Giêsu: “Lạy Chúa, xin tránh xa con, v́ con là kẻ tội lỗi” (Lc
5,8). C̣n con người ngày nay th́ thưa: “Lạy Chúa, xin chờ con một chút,
con phải thu xếp một số công việc, con đang cần ổn định lại, con phải
xưng tội đă !” Dường như Thiên Chúa không biết đến những ǵ diễn ra dưới
bộ mặt trí thức của con người.
Ngày nay, con người cần để Thiên Chúa đến
ở nơi họ, nơi tất cả những ǵ là thực sự của họ. Họ phải để Người ở
trong địa ngục của họ. Ho phải để Người hoạt động trong thân xác tội lỗi
của họ để Người xem xét lại tất cả. Đức Giêsu đă xuống âm ty trước khi
lên trời. Họ phải sống với Người mầu nhiệm này. Hăy sống với Người lời
mời gọi tiến về trời, ra khỏi những địa ngục.
Sống được mầu nhiệm này, con người sẽ t́m
được b́nh an, thứ b́nh an xoa dịu tất cả, thứ “b́nh an vượt lên trên
mọi hiểu biết” (Pl 4,7).
Thần Khí cho mọi người
Lần đầu tiên trong Mùa Phục Sinh, Tin
Mừng xác định rơ là Chúa Thánh Thần sẽ đến. “Đấng Bảo Trợ là Thánh
Thần … sẽ dạy anh em mọi điều.”
Phải chăng đă đến ngày mà ông Mô-sê đă
thoáng thấy từ xa xưa ? Trên đường trở về Đất Hứa, theo lệnh Đức Chúa
truyền, ông Mô-sê đă tập họp bảy mươi người trong số kỳ mục của dân và
đặt họ đứng chung quanh Lều Hội Ngộ (x. Ds 11,24). Và Thần khí Thiên
Chúa đă đến trên những người này. “ Nhưng việc đó không tái diễn nữa!”
Cũng theo sách Dân Số, Thần Khí Thiên
Chúa c̣n đậu xuống trên hai người không đến Lều Hội Ngộ. Thấy vậy ông
Giô-suê nói với ông Mô-sê: “Thưa thầy, xin thầy ngăn cản họ!”.
Ông Giô-suê làm thế v́ tưởng rằng như vậy là giữ uy tín cho thầy của
ḿnh. Chỉ riêng ḿnh ông Mô-sê hay những người nào cùng ở với ông mới
được lănh nhận Thần Khí. Nhưng ông Mô-sê trả lời: “Anh ghen giùm tôi
à? Phải chăng Đức Chúa ban Thần Khí trên toàn dân của Người để họ đều
làm ngôn sứ !” (x. Ds 11,26-29).
Vậy, Thần Khí Thiên Chúa đă đến trên mọi
tín hữu, trên Hội Thánh. Thần Khí vẫn đang hoạt động, như Đức Giêsu đă
hứa. Tuy nhiên người tín hữu vẫn cần phải kêu cầu và chờ đợi Thần Khí,
bởi v́ họ chưa hoàn toàn ưng thuận để Người phá bỏ những rào cản, những
h́nh thức đóng khung, những nỗi sợ hăi. Đang khi họ tuyên xưng Đức Giêsu,
đang khi họ quy tụ để tưởng niệm Đức Giêsu, họ vẫn không ư thức rằng họ
đang khép kín nơi chính ḿnh, nơi những cơ cấu, những tổ chức. Họ tự hào
về sự an toàn, về những xác tín của ḿnh. Họ nghĩ rằng ḿnh đă có Thần
Khí, nhưng thật ra Người lại ở xa họ, và đang đợi họ ở bên ngoài.
Dầu vậy, trong mỗi Ki-tô hữu cũng như
trong Hội Thánh, Thần Khí vẫn đang hiện diện và thôi thúc mỗi người và
Hội Thánh tiến về phía trước. Thế giới đă được mở rộng và mỗi người có
thể tiến bước mà không sợ hăi ǵ cả. Giả như có một lúc nào đó người
Ki-tô hữu có cảm tưởng như ḿnh lạc mất Đức Giêsu, th́ chính Thần Khí sẽ
giúp họ t́m lại được Người nơi những anh em. Tại đó, chính Đức Giêsu chờ
đợi họ trong một cuộc gặp gỡ tràn đầy t́nh yêu.
Tin là sẵn sàng
Đức tin bảo đảm với chúng ta rằng Đấng
Phục Sinh vẫn đang hiện diện khắp nơi trong thế giới, nhưng là hiện diện
trong vắng mặt. Phải nhận rằng chúng ta ngày nay đang sống trong một
t́nh trạng không rơ ràng: dù ư thức hay không, chúng ta luôn mang trong
ḿnh giấc mơ ngàn xưa về một vương quốc hữu h́nh và trật tự.
Tuy nhiên, chúng ta cũng biết rằng khi
Đức Giêsu trở về với Chúa Cha, Người không chấm dứt hoạt động. Cái chết
của Người không phải là dấu chấm hết cho việc nảy sinh một thế giới mới,
nhờ lời của Người. Công việc mới chỉ ở bước đầu. Người cần phải ra đi để
lời này, thoát khỏi mọi giới hạn về không gian và thời gian, tiếp tục
lan tỏa ra khắp thế giới, nảy mầm và đem lại hoa trái.
Đó là lời sống động bởi v́ được Thánh
Thần thổi vào. Người là Đấng gợi lên và thúc đẩy các sáng kiến của chúng
ta. Lời đó được lặp lại không ngừng để giúp ta khám phá ra những ư nghĩa
mới. Những ư nghĩa này xuất hiện dần dần tùy theo mức độ chúng ta quy
chiếu vào Tin Mừng để nhận định các biến cố, để lựa chọn và để hành động.
Như vậy, thời gian Đức Giêsu vắng mặt
cũng là thời gian để chúng ta thi hành trách nhiệm của ḿnh. Chúng ta
không được phép ẩn ḿnh trong những điều kiện có sẵn, nhưng trong đức
tin và niềm hy vọng, chúng ta sẵn sàng đối đầu với những nguy cơ để t́m
ra những giải pháp táo bạo cho những vấn đề luôn luôn mới do cuộc sống
tạo nên. Chúng ta đạt tới thái độ sẵn sàng này nhờ ḷng tin vào sự hiện
diện của Thiên Chúa, nhờ hoạt động của Thánh Thần. Lúc đó, cuộc sống của
chúng ta quả là kỳ diệu. “ Thánh Thần và chúng tôi quyết định …”
(Cv 15,28).
Lạy Cha,
mỗi biến cố và mỗi cuộc gặp gỡ
đều nói với chúng con về Đức Giêsu.
Xin cho chúng con biết đón nhận
cách khiêm tốn hơn,
sự hiện diện của Người
bằng cách dẹp bỏ tính kiêu căng.
Bởi v́ chúng con biết rằng:
Ai tin vào Đức Ki-tô
hơn là tin vào chính ḿnh,
người ấy đă có trong ḿnh
sự sống đích thực của Đức Ki-tô.
theo R. Guelluy
Fr Jude Siciliano,OP.
B́nh An Của Đức Kitô
Ga
14,23-29
Thưa qúi vị,
C̣n hai tuần nữa là đến lễ Chúa Thánh
Thần hiện xuống, cho nên chúng ta được nghe “tiếng đồn” về Ngài trong
hai bài đọc thánh lễ hôm nay. Sở dĩ có như vậy là v́ các tín hữu tiên
khởi đă cần đến sự hiện diện của Ngài để giải quyết những mâu thuẫn khá
nghiêm trọng trong qúa tŕnh phát triển Giáo hội
Bài đọc thứ nhất trích từ sách Tông đồ
Công vụ đoạn 15, các tín hữu gốc Do thái, có lẽ là những cựu biệt phái,
muốn áp đặt luật Mô-sê, nhất là hai luật cắt b́ và kiêng ăn lên những
tân ṭng của Hội thánh. Họ muốn các tân ṭng gốc dân ngoại phải trở
thành người Do thái trước đă rối mớ thành Kitô hữu như họ vậy. Ư kiến
thứ hai của Phaolô và Barnaba ngược hẳn lại (chính Barnaba cũng là người
dân ngoại trở lại) cho rằng không cần.
Trên con đường rao giảng tin mừng, Phaolô
gặp toàn thất bại trong các hội đường Do thái, thậm chí nhiều lần c̣n
gặp nguy hiểm đến tính mạng, cho nên ông đă quay sang dân ngoại và gặt
hái được nhiều thành công. Trong lời rao giảng cho dân ngoại, ông không
hề đả động đến luật Mô-sê. Ông dạy rằng chỉ cần tin vào Chúa Giêsu, sự
chết và phục sinh của Ngài là đủ để được ơn cứu rỗi. Thiên Chúa sẵn sàng
ban ơn cứu độ cho tất cả nhân loại qua sự chết và phục sinh của Con Ngài
mà không cần phải tuân giữ luật Mô-sê tức giao ước cũ. Mâu thuẫn thật là
sâu sắc và dễ bùng nổ. Ở thời điểm này, Hội thành Giêrusalem có quyền ra
quyết định tối hậu, v́ vậy Phaolô và Barnaba và các đồng sự khác lên
Giêrusalem để gặp các tông đồ và kỳ mục xin ư kiến. Cuộc gặp mặt này là
cuộc gặp mặt đầu tiên của Giáo hội, ngày nay người ta gọi là công đồng
Giêrusalem. Hội thánh Giêrusa-lem đă không gặp nhiều khó khăn khi thâu
nhận dân ngoại vào cộng đồng mà phần đông là người Do thái. Nhưng khi
lời giảng của Phaolô đă lập nên nhiều giáo hội hoàn toàn dân ngoại,
không có gốc gác chi với do thái, hoặc sát nhập vào truyền thống Do thái,
th́ nẩy sinh nhiều vấn đề tín lư và phong tục .
Đối với truyền thống tín hữu ở Giêrusalem
th́ h́nh như các giáo đoàn dân ngoại được hưởng qúa nhiều tự do, cho nên
họ cảm thấy khó chịu với ư nghĩ rằng Kitô giáo có lẽ sẽ trở nên rộng lớn
và không c̣n kiểm soát được nữa, bởi nó đă vượt ra ngoài ranh giới do
thái. Nó đang trở nên tôn giáo của dân ngoại. Nếu thế th́ vị trí của các
t́n hữu tiên khởi sẽ ra sao ? Họ c̣n có ảnh hưởng ǵ nữa haykhông ? Nếu
nó đi lạc khỏi đức tin chân thật vào Chúa Giêsu, Đấnh Thiên Sai th́ ai
sẽ uốn nắn lại ? Ai sẽ hướng dẫn Giáo hội trên đường ngay nẻo chính nếu
nó trở nên qúa cồng kềnh, qúa xa
trung tâm tôn giáo lúc ấy là Giêrusalem? Nhưng công đồng đă can
đảm đồng ư với Phaolô và các cộng sự viên của ông, gởi một lá thư bày tỏ
những quyết định của ḿnh cho Giáo đoàn Antiokia, không bắt các dân
ngoại phải gia nhập Do thái giáo như con đường dẫn tới Chúa Kitô. Thật
là một quyết định đầy khôn ngoan và cách mạng. Quyết định của Chúa Thánh
Thần. Bởi lẽ theo năo trạng lúc bấy giờ, phép cắt b́ là con đường sinh
tử dẫn tới ơn cứu độ của lời hứa Abraham, tương tự như phép thánh tẩy
của giáo hội ngày nay. Chính thánh Phaolô cũng bị áp lực cắt b́ cho
Timôtêô để tránh gương mù (Cvtđ,16,3). C̣n về kiêng ăn th́ được giữ cho
tới mức tối thiểu, chỉ có 4 điều. Thánh Giacôbê cầm đầu giáo đoàn
Giêrusalem dạy cho các giáo đoàn ngài có ảnh hưởng. Thánh Phaolô chẳng
nói ǵ hết, như thế có nghĩa là sự hoàn toàn đồng nhất về phong tục
không phải là vấn đề lớn đối với các tín hữu tiên khởi .
Tác gỉa Raymond Brown nhận xét rằng trong
hội nghị Giêrusalem không ai dám lên tiếng công khai bênh vực lập trường
các tín hữu gốc dân ngoại không phải giữ lề luật Mô-sê, bởi v́ chính
Chúa Giêsu đă không miễn trừ cho Ngài lề luật đó, nếu không phải giữ th́
Ngài đă tuyên bố như vậy. Thực tế th́ Ngài đă giữ hết mọi điều lề luật
dậy. Ngày nay lư luận này vẫn c̣n được dùng trong các vấn đề nóng bỏng
của Giáo hội, thí dụ phụ nư làm linh mục, ngừa thai …
Công vụ các Tông đồ thường được coi là
Công vụ của Chúa Thánh Thần. Qua những kinh nghiệm như kinh nghiệm hội
nghị này, giáo hội tiên khởi đă ư thức được Chúa Thánh Thần đang ngự
giữa Hội thánh. Họ nhận ra Chúa Giêsu vẫn ở với họ qua sự hiện diện của
Chúa Thánh Thần, cho nên các quyết định của họ là hợp ư Chúa:”Thánh Thần
và chúng tôi đă quyết định không buộc anh em phải giữ điều ǵ khác,
ngoài những điều cần thiết này…”. Dựa vào đâu mà Giáo hội tiên khởi tự
tin rằng Chúa Thánh Thần đă ở với họ trong vấn đề nghiêm trọng của tín
lư ? Trước hết, kết luận của họ hợp với tin mừng của Chúa Giêsu mà họ
đang rao gỉang. Họ nhớ lại khi Chúa ngồi ở bàn ăn với họ, th́ Ngài không
loại trừ ai, Ngài chấp nhận tất cả “người thân cũng như người
sơ”,”bạn hữu cũng như kẻ thù”. Và tất cả đều đặt ḷng tin vào Ngài
để được ơn cứu độ chứ không phải v́ tuân giữ tập tục và lề luật. Dĩ
nhiên Giáo hội tiên khởi cũng có lúc ngần ngại đối với sự đe dọa của
khác biệt về chủng tộc, màu da, ngôn ngữ. Nhưng thánh Phaolô trong các
thư của ngài đă cực lực phản đối thái độ này. Ngài nói : “Không c̣n
chuyện phân biệt Do thái hay Hy lạp, đàn ông hay đàn bà, nhưng tất cả
anh em là một trong Đức Kitô” (Gl.3,28). Trong Giáo hội không có tín
hưũ hạng hai hay tín hữu hạng một, tất cả đều là công dân Nước Trời đầy
đủ và trọn vẹn.
Với kinh nghiệm như thế, hội nghị
Giêrusalem đă không có ư tưởng kỳ thị bất cứ một ai, một dân tộc nào.
Cuộc họp của họ thân t́nh và đoàn kết thể hiện sự có mặt của Chúa Thánh
Thần. Họ không dựa vào một ai đó có các câu trả lời “có sẵn”. Họ
bàn bạc và lắng nghe nhau cho dù có nhiều ư kiến đối nghịch bởi những
nhóm khác nhau về văn hóa, phong tục. Cuối cùng họ đồng thanh, nhất trí
đi đến một kết luận chung, hoàn toàn dựa vào đức tin và gương lành của
Chúa Giêsu, họ đang trở nên một Giáo hội rộng mở. Nếu họ vội vă lấy một
quyết định hẹp ḥi dựa trên những lời dạy và thục hành của các kỳ mục
Giêrusalem th́ Giáo hội sẽ chẳng bao giờ vượt khỏi ranh giới do thái và
các vùng phụ cận .
Lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống đă gần kề,
trong ngày đó chúng ta cũng cử hành sự khác biệt về chủng tộc màu da,
ngôn ngữ nhưng duy nhất về đức tin. Mọi người đều nghe Chúa Thánh Thần
nói trong ngôn ngữ của ḿnh. Chúa Thánh Thần ngự xuống trên Hội thánh
trước khi họp công đồng Giêrusalem. Công đồng Giêrusalem đă lắng nghe sứ
điệp của Ngài rất chính xác, quyết định của họ cho đến ngày nay vẫn được
nhận biết là tiếng nói của Chúa Thánh Thần qua dân ngoại. Quyết định của
giáo xứ chúng ta ra sao ? của hợp nhất hay chia rẽ. Qua kinh nghiệm về
Chúa Thánh Thần hay về tiền bạc, tự ái, chức quyền?… đây cũng là bài học
qúy báu về truyền giáo, hội nhập văn hóa cho chúng ta ngày nay.
Qua bài tin mừng, chúng ta có 3 đề tài
quan trọng để khai triển : 1. T́nh yêu là động lực kết hiệp chúng ta với
Chúa. 2. Lời hứa ban Chúa Thánh Thần. 3. B́nh an và hoan lạc Chúa Kitô
ban khi Ngài trở về với Thiên Chúa Cha. Rao giảng cả ba đề tài này trong
một thánh lễ th́ qủa là qúa tải. Tốt hơn nên chọn một hoặc hai .
Chúng ta đang chờ đợi Lễ Ngũ Tuần, như
vậy chúng ta có thể khai triển về vai tṛ của Chúa Thánh Thần trong Giáo
hội. Cộng đoàn Hội Thánh của Thánh Gioan tông đồ vào thời điểm tin mừng
mang tên ngài được viết (khoảng năm 90) đang ở trong một t́nh
trạng hết sức khó khăn, bên ngoài th́ bị bách hại, bên trong th́ chia rẽ,
các tông đồ đă chết cả, những người trực tiếp chứng kiến Chúa Giêsu chịu
hành h́nh cũng đă qua đời. Vậy mà Chúa vẫn chưa trở lại ! Họ đang cần sự
hiện diện của Ngài một cách tuyệt vọng. Bám víu vào đâu để được an ủi mà
đứng vững ? Chính là nhưng biểu hiện của Chúa Thánh Linh Qua Chúa Thánh
Linh, qua những công việc của Ngài làm trong Giáo hội mà họ biết tinh
thần của Chúa Giêsu vẫn hằng ở với họ . Họ chẳng phải vất vả để được
Chúa Thánh Linh. Ngài được ban không cho họ nhờ ḷng rộng răi của Thiên
Chúa. Chúa Thánh Linh giữ vai tṛ sinh tử để Hội thánh sống đức tin của
ḿnh. Hội Thánh cần sự hiện diện của Ngài để sống c̣n và phát triển. Bài
đọc thứ nhất đă minh chứng điều đó. Thánh Thần sẽ được ban xuống trong
Danh của Đức Giêsu để nối kết mỗi cuộc đời chúng ta với Chúa, dậy dỗ
chúng ta biết tháp nhập trọn vẹn vào cuộc đời của Chúa trong nếp sống
hằng ngày. Với những hoạt động như thế của Thánh Linh ở giữa Hội Thánh
chúng ta có bằng chứng đầy đủ về sự hiện diện của Chúa Giêsu trên thế
gian .
Đề tài khác chúng ta có thể loan báo hôm
nay là về ơn b́nh an của Chúa Giêsu khi Ngài ĺa bỏ các tông đồ. Trong
cộng đồng do thái từ “B́nh an” (shalom) mang khá nhiều ư nghĩa. Lời chào
gặp nhau hay từ biệt ngụ ư chúc cho cộng đoàn dân Chúa sống ḥa hợp, lời
chúc của một cuộc sống đầy đủ, lời chúc một cuộc đời hạnh phúc… tất cả
đều qui chiếu về ngày Đấng Messia ngự đến. Chúa Giêsu mang b́nh an và
mọi ư nghĩa mà từ đó gói ghém cho các môn đệ Ngài. Chính Ngài là Đấng
Messia cho nên b́nh an của Ngài là b́nh an của Thiên Chúa,đáp ứng ước
vọng dân Do thái và loài người. B́nh an trong yêu thương và hoan lạc
chân thực không giống như b́nh an gỉa hiệu của thế gian. V́ vậy, người
môn đệ của Chúa có bổn phận khơi dậy thứ b́nh an này trên toàn thế giới,
để dập tắt hận thù, chiến tranh, chia rẽ và lập nên cộng đồng shalom
nhân loại. Trong mùa phục sinh này đa phần tín hữu đều cảm nghiệm được
ơn cứu độ, được b́nh an của Chúa Giêsu và trong thánh lễ hôm nay, bên
bàn tiệc Thánh Thể chúng ta lại lần nữa được ơn bảo đảm thứ b́nh an mà
thế gian không thể ban tặng. Liệu chúng ta có biết chia sẻ thứ b́nh an
quí báu này cho anh chị em chung quanh ? Liệu chúng ta có biết xây dựng
một thế giới biết cảm nghiệm shalom của Chúa Giêsu và sự hiện diện của
Chúa Thánh Thần? Tôi hy vọng là được. Amen.
Fr Jude Siciliano,OP.
Hoa Quả Của thánh Thần
(Ga 14, 23-29)
Thưa quư vị.
Trong đời sống gia đ́nh, thể nào cũng có
một ngày trọng đại. Ngày công bố nội dung tờ di chúc, cha mẹ đă già cả,
chẳng c̣n sống được bao lâu, thường để lại ư muốn của ḿnh cho con cháu
về vấn đề tài sản; ngơ hầu sau khi qua đời th́ mọi sự được rơ ràng, khỏi
xảy ra tranh chấp. Lúc ấy các con phải có mặt, cha mẹ chia phần cho từng
đứa và giải thích lư do tại sao các ngài làm như vậy. Trong trường hợp
gia đ́nh hoà thuận, yêu thương th́ có lẽ người chị cả sẽ nói : “Thưa bố
mẹ, con và chồng con làm ăn khấm khá rồi, có công ăn việc làm đều đặn và
tương lai ổn định. Chúng con nhất trí nhường phần gia tài của tụi con
cho gia đ́nh của cậu em. Vợ cậu bất toại. Con cái lại c̣n nhỏ, chưa giúp
đỡ được chuyện chi, gia đ́nh nheo nhóc. Tụi con xin cha mẹ chấp thuận”.
Tuy nhiên, nếu gia đ́nh chia rẽ và ghen
ghét nhau, hoặc trong quá tŕnh sống cha mẹ không giáo dục con cái tốt,
để chúng đặt của cải lên trên hết, th́ bức tranh khác hẳn, sẽ có những
cuộc căi cọ tranh giành : Tại sao tụi nó được phần hơn tụi con, trong
khi chúng con phụ giúp bố mẹ nhiều hơn, vợ chồng nó suốt ngày lười biếng,
ăn bám, phá hoại và lêu lổng. Chúng có yêu bố mẹ đâu ?” Tin Mừng hôm nay
mô tả Chúa Giêsu và các môn đệ ở hoàn cảnh tương tự trong bữa tiệc ly,
tuy rằng là duy nhất. Đối với Chúa Giêsu, Ngài biết rơ cuộc đời dương
thế chấm dứt, các môn đệ cũng linh cảm điều chi quan trọng sắp xảy ra;
cho nên bao lâu c̣n sống, ngồi ăn với các môn đệ, Ngài tuyên bố “di chúc”
và “chứng từ” cuối cùng của đời ḿnh. Ngài sẽ để lại cho họ những trăn
trối, ngăn ngừa chia rẽ và đổ vỡ. Ngài chỉ đạo cho họ phải làm chi sau
khi Ngài ra đi, để họ vẫn sống trung thành như các tông đồ của Ngài.
Ngài sẽ phân chia “tài sản thiêng liêng” cho họ. Nhưng liệu có ai
được hơn, ai phải chịu phần kém ? Ai sẽ được ưu ái, ai sẽ ra ŕa ? Ngài
để lại điều chi có khả năng tồn tại vinh hiển chứ không phải chỉ là kư
ức chóng qua, mai một trong vài thế hệ ? Hẳn quư vị đă đoán ra giải pháp
của Ngài ! Giải pháp đó xứng với sự khôn ngoan thượng trí của Đức Chúa
Trời. Nếu chưa tôi xin mách bảo. Ngài trối lại chính bản thân Ngài sống
động trong Thần Khí : “Này đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến
tận thế” (Mt 28,20).
Như vậy, cùng với sách Công Vụ Tông Đồ,
Phúc Âm hôm nay nhắc nhở chúng ta di chúc của Chúa Giêsu là Thần Khí.
Tài sản này không nằm ở lănh vực vật chất mà hoàn toàn thiêng liêng,
không thế hệ tín hữu nào có thể tiêu phí, tẩu tán hoặc làm hao ṃn. Thần
Khí luôn hiện hữu trong Hội Thánh, trong từng linh hồn sống động và tươi
trẻ. Chúa Giêsu gọi Thần Khí ấy là Đấng bảo trợ. Như vậy kho tàng của
cải của Giáo Hội không phải là vàng bạc đá quư mà là Chúa Thánh Thần,
Đấng luôn ở với Hội Thánh và gần gũi Hội Thánh. Trong mọi hoàn cảnh,
những t́nh huống khó khăn, Hội Thánh có thể cậy dựa vào Chúa Thánh Thần.
Ngài là sức mạnh, bênh vực mọi tín hữu, nói cách khác, Chúa Thánh Linh
luôn đồng minh với chúng ta, về phe với chúng ta chống lại sa tan, thế
gian và xác thịt. Chẳng có di chúc nào cao quư và vững chắc hơn. Nếu
hiểu ra, ắt hẳn các tông đồ ḷng đầy vui mừng và vững tin. Chẳng những
các tông đồ mà chúng ta ngày nay cũng vậy, miễn là giữ được điều kiện
của Chúa.
Điều kiện đó là tuân giữ lời Ngài :
“Ai yêu mến Thầy, th́ sẽ giữ lời Thầy”. Ḷng yêu mến này không phải
là t́nh cảm dạt dào chóng qua. Nó sẽ bay thành hơi khói khi gian nan tới
hay dục vọng thấp hèn tấn công; nhưng là quyết tâm mạnh mẽ và vững bền
sống theo những điều Chúa dạy, ghi khắc vào linh hồn những gương sáng
của Ngài. Do đó tuân giữ lời Ngài là dấu chỉ cụ thể chúng ta mến yêu
Ngài. Lời nói suông chẳng có ư nghĩa ǵ, việc làm mới chứng tỏ chúng ta
yêu Ngài đích thực. Tuy nhiên tự sức ḿnh các tông đồ, các tín hữu,
không thể thực hành những điều Chúa truyền dạy: Tha thứ cho kẻ thù, vả
má bên trái đưa luôn má bên phải, cho kẻ đói ăn và kẻ khát uống, chống
lại những bất công đến cùng đâu phải là chuyện dễ, mà lại phải làm liên
tục, đ̣i hỏi can trường và kiên nhẫn. Chúng ta cần đến sự trợ lực của
Chúa Thánh Thần. Cho nên khi tuyên bố chứng từ di chúc của ḿnh, Đức
Giêsu đă để lại một đảm bảo là chúng ta sẽ trung thành thực hiện lời
Ngài. Chúng ta kinh nghiệm sâu xa đời sống mới trong linh hồn ḿnh nhờ
Thần Khí; Ngài chăm lo trước sự an lành của mỗi linh hồn và toàn thể
cộng đoàn Hội Thánh bằng một thứ “an b́nh” mà loài người không thể ban
được. Đó là Chúa Thánh Linh, ngơ hầu mọi người sống xứng đáng danh hiệu
tín hữu của Chúa Kitô trong một thế giới luôn thay đổi, bất an và bạo
loạn.
Khi suy niệm bài đọc Tin Mừng này, chúng
ta nên để ư đến công việc của Chúa Thánh Thần: “Đấng bảo trợ là Chúa
Thánh Thần, Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy. Đấng đó sẽ dạy anh em
mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại những ǵ Thầy đă nói với anh em”.
Với nhiệm vụ là Đấng bảo trợ, Thần Khí sẽ ngự giữa Giáo Hội như Chúa
Giêsu đă luôn hiện diện với các tông đồ. Chắc chắn Thiên Chúa sẽ gởi
Thánh Thần xuống trên mỗi tín hữu, cho nên chúng ta chẳng cần thực hiện
những kỳ tích để lănh nhận Ngài. Chỉ phải sống trong danh Đức Kitô và
Thần Khí sẽ nối kết chúng ta với Ngài. Đúng theo lời Chúa Giêsu, Thánh
Linh sẽ dạy dỗ Hội Thánh, biến Hội Thánh thành hiền thê trong trắng và
thánh thiện. Đó là lời an ủi khích lệ các tông đồ, những người nhát đảm
và hay lăng quên. Họ cần Thánh Thần giúp đỡ để áp dụng Lời Chúa trong
các hoàn cảnh mới.
Nhưng điểm nhấn của Tin Mừng hôm nay là
Thần Khí hiện diện trong cộng đoàn. Khám phá Thần Khí trong từng cá nhân
chưa đủ, phải là toàn thể cộng đoàn. Bởi lẽ Ngài hướng dẫn và nuôi dưỡng
Hội Thánh. Đức tin không chỉ có nghĩa cá nhân mà c̣n phải liên quan đến
cộng đồng, đặt nền tảng trên đức tin Hội Thánh. Giữa tôi và cộng đoàn
phải có sự liên hệ hữu cơ, giáo lư Vaticanô II dạy : “Tôi tin, chúng
tôi tin”. Mối liên hệ này rơ nét ngay từ buổi đầu của Hội Thánh.
Công đồng Giêrusalem đă giải quyết vấn đề dân ngoại trở lại bằng một hợp
ư chung : “V́ thế chúng tôi đồng tâm nhất trí quyết định…” nghĩa
là Hội Thánh đă bàn bạc và hành động dân chủ, không áp đặt ư kiến riêng
tư lên trên cộng đoàn. Vấn đề, nếu hiểu ra, th́ rất quan trọng và ảnh
hưởng sinh tử đến Giáo Hội non trẻ.
Hai tông đồ Phaolô và Barnaba rao giảng
tại miền cận đông, nhiều người dân ngoại như Hy Lạp, La Mă, Capađôcia,
Pontô đă nghe theo lẽ phải và trở lại tôn thờ Thiên Chúa của dân Israel,
tôn thờ Đức Giêsu cứu thế. Họ khát khao được Ngài hướng dẫn và cứu độ.
Câu hỏi nảy sinh là họ có phải giữ luật Môsê không ? Cụ thể là luật cắt
b́ và kiêng ăn. Các tín hữu gốc Do Thái từ Giuđêa (có lẽ là cựu biệt
phái) xuống Antiôkhia nói là có: “Nếu anh em không chịu phép cắt b́ theo
tục lệ Môsê, th́ anh em không thể được cứu độ”. Họ theo đúng năo trạng
và lương tâm của dân tộc ḿnh, Kinh Thánh đă dạy rơ ràng như thế, từ
chối là đi trệch con đường Thiên Chúa muốn. Người Do Thái ngoan đạo
không bao giờ dám làm. Ngược lại Phaolô và Barnaba cho rằng không cần,
chỉ tin vào Chúa Giêsu, sự chết và sống lại của Ngài là đủ để được ơn
cứu độ. Câu chuyện thật khó khăn, không như chúng ta nghĩ ngày nay. Nếu
giữ luật Môsê để được cứu độ th́ cuộc nhập thể, khổ nạn và phục sinh của
Chúa Giêsu bằng thừa. Mặt khác, nếu không phải giữ th́ đạo Do Thái bị
phá sản, các giao ước Thiên Chúa lập ra với tổ phụ xem ra không c̣n giá
trị. Tiến thoái lưỡng nan, quay phía nào cũng gặp bế tắc.
Nhưng Giáo Hội tiên khởi đă được Chúa
Thánh Linh chỉ dẫn nên đă đưa ra sáng kiến phù hợp với chân lư và lẽ
phải: “Thánh Thần và chúng tôi đă quyết định không đặt lên vai anh em
một gánh nặng nào khác, ngoài những điều cần thiết này là kiêng ăn đồ đă
cúng ngẫu tượng, không ăn tiết canh, ăn thịt loài vật không cắt tiết và
tránh gian dâm”. Đúng là một sự nhất trí và can đảm lạ lùng. Ơn Chúa
Thánh Linh đă ban cho cộng đoàn tông đồ quyền bính chỉ đạo sáng suốt tài
t́nh. Quyền bính đi theo đường lối của Thiên Chúa mà không làm xáo trộn
lương tâm các tín hữu; ngược lại, ban cho họ sự thánh thiện và b́nh an.
Suốt ḍng lịch sử, Giáo Hội luôn có nhu cầu về những quyết định loại này
và sự đáp trả hữu hiệu. Tuy nhiên chỉ dưới sự hướng dẫn của Thánh Linh,
chúng ta mới được hưởng những ân huệ ấy mà thôi.
Ngay sau khi hứa ban Thần Khí, Chúa Giêsu
để lại điều quan trọng bậc nhất cho các tông đồ: B́nh an của Ngài:
“Thầy để lại b́nh an cho anh em, Thầy ban cho anh em b́nh an của Thầy.
Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian”. Chính nhờ ân huệ b́nh
an này mà Hội Thánh tiên khởi đă hành động hàn gắn những chia rẽ, bất
hoà ngay khi manh nha và tiếp tục công việc mang b́nh an Chúa Giêsu đến
cho toàn thế giới. Nếu như cộng đoàn tuyên xưng đức tin vào Hoàng Tử
B́nh An mà c̣n đầy bất hoà, chia rẽ và chống đối th́ làm thế nào rao
giảng Tin Mừng Chúa Giêsu cho nhân loại? Cho nên Giáo Hội phải giải
quyết ngay những khó khăn nội bộ th́ mới có hy vọng thuyết phục thiên hạ
tin kính Chúa Giêsu. Một nguyên tắc luôn được ghi nhớ: Ơn thánh của
Thiên Chúa không bao giờ mang tính chia rẽ, nó luôn đoàn kết và nhất trí.
Chỉ sa tan và tội lỗi mới gây bất hoà.
Cho nên ở đâu có chia rẽ ở đấy có bóng
dáng tội lỗi. Điều này đúng trong gia đ́nh, cộng đồng, xă hội và toàn
thế giới: Chém giết, chiến tranh không đến từ t́nh thương Thiên Chúa, mà
từ bụng dạ xấu xa của con người. Chúa Giêsu ban Thần Khí cho Hội Thánh
là để biến đổi các tín hữu thành sứ giả hoà b́nh. Sứ giả trong ḷng Giáo
Hội và trên thế giới. Có rất nhiều bất ổn trong các Giáo Hội tiên khởi.
Nó c̣n kéo dài măi cho đến ngày nay. Nhưng Hội Thánh c̣n tồn tại được là
nhờ Chúa Thánh Thần soi sáng và hướng dẫn. Giữa các tín hữu luôn nảy
sinh nhiều sức mạnh hiệp nhất và b́nh an. Thánh Luca mô tả Chúa Thánh
Linh là nguyên lư của sự hiệp nhất đó. Ngài thu thập mọi màu da, tiếng
nói, sắc tộc vào ḷng Giáo Hội, nhưng vẫn duy nhất trong đức tin.
Theo ḍng thời gian, Giáo Hội có nhiều
nền văn hoá, phong tục, ư kiến, nhưng hoàn cảnh không cho phép phá vỡ sự
hiệp nhất mà Chúa Giêsu đă tha thiết xin cùng Chúa Cha trước khi Ngài
chịu chết. Lễ Chúa Thánh Thần đă gần kề, giáo xứ chúng ta cũng bắt đầu
cầu nguyện cho sự hiệp nhất. Những chia rẽ quá khứ đă gây nhiều thiệt
hại, phải rút kinh nghiệm cho tương lai. Thần Khí của Chúa chính yếu
mang tính tông đồ. Khi lănh nhận Ngài, chúng ta cũng lănh nhận sứ vụ của
Ngài. Chúng ta lănh nhận b́nh an Chúa Kitô th́ cũng phải gieo rắc b́nh
an cho thế giới. Tín hữu phải là kẻ kiến tạo hoà b́nh, khởi sự từ bản
thân, họ hàng và giáo xứ. Chúa Thánh Thần ngự trên cộng đoàn các tông đồ
không phải một lần rồi thôi, nhưng ở lại và hoạt động với các ông; để
làm cho Chúa Giêsu luôn hiện diện và thúc đẩy chúng ta đem ơn Phục sinh
cho thế gian. Như vậy ngay lúc này Thánh Thần vẫn đang ở giữa Giáo Hội
như xưa Chúa Giêsu ngự giữa các tông đồ. Khi Chúa ban b́nh an cho các
ông th́ Ngài cũng nhắc nhớ Ngài sẽ trở lại. Thực sự Ngài đă giữ lời hứa
và trở lại bằng Thần Khí. Cho nên Ngài luôn có mặt giữa Hội Thánh, chỉ
có trở ngại là chúng ta hay quên.
Nếu như Phúc Âm dạy dỗ chúng ta điều chi
th́ đều bảo đảm rằng, Thần Khí sẽ ở với chúng ta, giúp đỡ chúng ta đi
theo đúng đường lối Chúa Giêsu. Các tác giả đều viết Tin Mừng sau lễ
Hiện Xuống. Cho nên, tâm hồn của họ tràn đầy Thánh Linh, họ mô tả cuộc
đời Chúa Cứu Thế đúng như Thánh Linh soi sáng. Nước Thiên Chúa mà họ
truyền lại các thế hệ tín hữu là chữa lành bệnh tật, tha thứ xúc phạm,
rao giảng hoà b́nh, dạy dỗ thánh ư Thiên Chúa. Lúc này đây cũng dưới ảnh
hưởng của Chúa Thánh Linh, chúng ta có bổn phận tiếp tục sứ vụ của Chúa
Giêsu và Thần Khí cũng vẫn sẵn sàng giúp đỡ thi hành nhiệm vụ đó. Cho
nên: “Lạy Chúa Thánh Linh, xin ngự đến”. Amen. Halleluia.
Giacôbê Phạm Văn Phượng op
Bằng chứng của t́nh yêu
(Ga 14,23-29)
Sống ở trần gian, ai cũng phải trải qua
những giây phút lo âu. Lo âu về tương lai, về gia đ́nh, về con cái, về
tiền bạc, về công việc làm ăn, về sức khỏe. Những lo âu ấy như một chất
thuốc độc tác hại vào tâm hồn và cướp đi những niềm vui trong lành,
những giấc ngủ b́nh an, khiến chúng ta luôn băn khoăn, khắc khoải.
Chúng ta t́m mọi cách để giải thoát ḿnh
khỏi những lo âu. Chẳng hạn : đánh một con số đề, mua một tấm vé kiến
thiết để bớt đi những lo âu về tiền bạc. Lao ḿnh vào rượu chè và những
thú vui khác nữa để t́m lấy những giây phút thoải mái. Uống một viên
thuốc an thần để có được một giấc ngủ nặng nề. Đi thầy bói, thầy tướng,
thầy số để kiếm t́m một bảo đảm cho tương lai hậu vận. Tất cả những việc
làm ấy, nếu không muốn nói là nhảm nhí, th́ cũng chỉ là những giải pháp
tạm thời, thiếu căn bản và không nền tảng.
Có một người đàn bà kia lo âu trước viễn
tượng một ngày mai đen tối của bản thân và con cái v́ ông chồng vừa mới
qua đời. Bà suy đi nghĩ lại mà vẫn không t́m ra lối thoát. Sau cùng, bà
đến hỏi ư kiến một luật sư, bà ngồi ở pḥng đợi và chờ đến lượt ḿnh
được kêu vào để giăi bày sự việc. Cặp mắt lo âu đảo quanh pḥng, bất ngờ
dừng lại trước tấm ảnh thánh Phan-xi-cô Át-si, vị thánh của niềm vui và
hạnh phúc.
Bức ảnh rất b́nh thường. Thánh nhân với
một vầng hào quang ở trên đầu, c̣n dưới chân có những con chim sẻ nhỏ
được ngài chăm sóc. Tuy nhiên, bức ảnh đă có một tác động lớn, đến độ đă
biến đổi hẳn tâm hồn của người đàn bà lúc bấy giờ.
Bà hồi tưởng lại những ǵ đă biết về
thánh nhân : sống hồn nhiên vô tư, không lo ǵ đến cả của ăn cho ḿnh và
cho các thầy ḍng, hoàn toàn phó thác trong bàn tay yêu thương của Chúa.
Bà cố gắng thực hiện như thánh nhân đă
làm, đó là coi nhẹ những lo âu. Dù xảy ra thế nào chăng nữa, th́ cũng
không ngoài thánh ư Chúa. Dù có thất bại, th́ biết đâu trước mặt Thiên
Chúa, lại là một điều tốt. Bà đă sống theo lời khuyên sau đây của thánh
Phê-rô : “Hăy dâng mọi lo âu cho Chúa và hăy đặt chúng vào bàn tay của
Ngài”.
Có thể chúng ta sẽ mỉm cười và bảo : điều
đó nói th́ dễ nhưng làm th́ khó, bởi v́ trong thực tế chúng ta luôn bị
những lo âu dằn vặt. Thánh Phê-rô không phải là ngựi viển vông và mơ
mộng, ngài đă trải qua những khó khăn, vất vả cũng như đă từng có những
phút giây yếu đuối và sa ngă, ngài đă nghiệm ra rằng Thiên Chúa chính là
một người Cha hằng yêu thương, chăm sóc và tha thứ cho chúng ta, v́ thế,
hăy phó thác mọi lo âu cho Chúa. Nếu xác tín và tin tưởng như vậy, chúng
ta sẽ không c̣n bị lo âu dằn vặt.
Đàng khác, cũng trong bài Tin Mừng hôm
nay, Chúa Giêsu cho biết :“Ai yêu mến Thầy, th́ sẽ giữ lời Thầy”. Một
câu Kinh Thánh đó thôi đủ để định nghĩa thế nào là người yêu của Chúa,
thế nào là một người yêu mến Chúa.
Nếu có ai hỏi chúng ta hay nếu chúng ta
tự hỏi ḿnh : làm sao chúng ta biết được chúng ta có yêu mến Chúa hay
không, và yêu mến Chúa nhiều hay ít ? Chúng ta căn cứ vào đâu để trả lời
? Thưa, có một dấu hiệu, một bằng chứng , đó là có tuân giữ lời Chúa hay
không. Và cái thước đo ḷng yêu mến của chúng ta nhiều hay ít, là chúng
ta tuân giữ lời Chúa nhiều hay ít : giữ nhiều là yêu mến nhiều, giữ ít
là yêu mến ít.
Hơn nữa, người yêu mến Chúa thật là người
yêu mến Chúa bằng hành động, là thực hành lời Chúa. Nếu chúng ta nói
chúng ta yêu mến Chúa mà chúng ta không thực hành những lời Chúa dạy,
th́ có khác ǵ đứa con “gọi dạ bảo vâng” , chỉ vâng vâng dạ dạ mà không
chịu làm việc cha mẹ sai bảo, th́ t́nh yêu của chúng ta chỉ là một thứ
t́nh yêu đầu môi chót lưỡi mà thôi.
Như thế chúng ta sẽ là người không yêu
mến Chúa khi chúng ta không làm như lời Chúa dạy, chúng ta sẽ là người
ghét Chúa khi chúng ta làm sai lời Chúa dạy, chúng ta sẽ là người phản
bội lời Chúa nếu chúng ta tránh né, bỏ bê hay lười biếng không làm những
việc đáng phải làm. V́ thế, Chúa luôn nhấn mạnh đến ích lợi và giá trị
của việc nghe và làm theo lời Chúa : “Nghe và thực hành lời Chúa là xây
nhà ḿnh trên đá”, “Hăy làm theo lời Chúa, chứ đừng nghe suông mà tự lừa
dối ḿnh”. Cho nên, lư thuyết và thực hành phải đi song song với nhau
mới có ích lợi, đó cũng là ư nghĩa của câu : đức tin không việc làm là
đức tin chết.
Xin Chúa cho chúng ta biết thực hành lời
Chúa, đó là bằng chứng chúng ta yêu mến Chúa, và không ai có thể trách
chúng ta có lư thuyết đúng, có đạo lư hay mà không thực hành đúng, th́
cũng như không.
Fr Jude Siciliano,OP
Thần Khí Chúa Ngự Trên
Tôi V́ Tôi Thực Thi Thánh Ư Ngài
Ga 14, 23-29.
Thưa quư vị,
Theo thói thường, rời bỏ nơi chốn ḿnh
quen sống với người thân, bạn bè, làng giềng là khó, tưởng chừng như cắt
đứt một quăng đời, cắt đi một khúc ruột, trừ phi chúng ta ra đi v́ hận
thù, v́ khó khăn kinh tế, chính trị. Sự kiện này khiến chúng ta thông
cảm với những người di cư, lỡ bước. Những bài hát “tha hương” lúc nào
cũng buồn da diết. Một bà lăo gần đây nói với tôi: “Con ghét cay ghét
đắng nói câu “tạm biệt”. Con thấy khó nói lắm.” Giọng của bà xem ra độc
nhất, gần như chỉ ḿnh bà cảm được điều ấy. Thực tế th́ hàng triệu người
trên hành tinh này hàng ngày phải chịu cảnh ly hương. Dầu vậy, tâm lư
b́nh thường th́ chẳng ai yêu thích nói tạm biệt. Người ta thường nh́n
trước vào những giây phút đó với lo sợ và buồn rầu, trừ phi v́ tan vỡ
gia đ́nh, mất việc, hận thù. Chúng ta biết rằng ḿnh đang bỏ lại đằng
sau một thế giới quen thuộc, một quăng đường êm đềm để bước vào tương
lai bất định. Chúng ta đă đầu tư quá nhiều tiền bạc, t́nh cảm, tá năng
vào nơi chốn cũ, làm sao dứt áo ra đi? V́ thế thật đau xót khi phải vĩnh
biệt!
Để bù lại mất mát to lớn và tự yên ủi
ḿnh, chúng ta thường nói” see you again”. Tôi sẽ thăm ông bà, các bạn
khi có thể, tôi sẽ điện cho anh, cho em, cho bố mẹ… và hàng trăm biểu
hiện hứa hẹn khác, mặc dù biết đó là những lời hứa khó thực hiện. Những
linh hồn yếu mềm, đa cảm thường để cho nước mắt tự do rơi, khóc cho vơi
nhẹ nỗi ḷng.
Chúng ta hiểu được tâm trạng của Chúa
Giêsu và các môn đệ trong bữa tối vĩnh biệt hôm nay. Chúng ta đang ở
quăng giữa của diễn từ cuối cùng (từ chương 13-17). Những chi Chúa nói
với họ thật đau xót và đầy tâm huyết. Nếu người ta có chút lương tâm
chẳng thể không thông cảm với hoàn cảnh. Thực tế tính nặng nề và nghiêm
trọng bao trùm toàn thể căn pḥng trên lầu, nơi họ ăn bữa vượt qua cũng
là bữa vĩnh biệt để chia tay. Chúa Giêsu phải hết sức b́nh tĩnh để an ủi
các môn đệ, những người mà Ngài thương yêu đến cùng: “Thày bảo thật anh
em, Thày ra đi và lại đến cùng anh em” hoặc “Thày không bỏ anh em mồ côi,
Thày sẽ trở lại cùng anh em.” Hoặc “Thày ra đi để dọn chỗ cho anh em,
trong nhà Cha thầy có nhiều chỗ ở”… và c̣n nhiều lời tương tự giống như
tâm lư tôi vừa miêu tả ở trên, và c̣n hơn thế nữa v́ giây phút này là
giây phút quyết liệt. Đúng như khi chia tay, chúng ta thường cố gắng an
ủi người ở lại, hứa hẹn với họ đủ điều tốt đẹp, nghĩa là vẫn luôn luôn
tiếp xúc, luôn luôn hiện diện. Chúng ta làm hết sức ḿnh để không mất đi
những người yêu mến.
Trong suốt 5 chương sách, thánh Gioan đă
mô tả t́nh cảnh biệt ly của Chúa Giêsu. Chúa cố gắng hết sức để an ủi
các ông, ḥ hẹn với các ông rằng luôn tiếp xúc với các ông (stay in
touch) bằng cách sai Chúa Thánh Thần ngự xuống: “Đấng bảo trợ là Thánh
Thần, Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thày, Đấng ấy sẽ dạy anh em mọi điều
và sẽ làm cho anh em nhớ lại những điều Thầy đă nói với anh em.” Chúa có
quyền năng để làm trọn lời hứa, nhưng các ông không thể tưởng tượng nổi.
Liệu ngày nay chúng ta hiểu nổi và tin tưởng vào Lời Chúa? V́ Ngài cũng
nói với chúng ta như vậy trước khi về trời? Thiết nghĩ khó lắm, v́ nếu
chúng ta thông minh hơn các tông đồ, hẳn đă sống khác, chứ không ươn
lười, tầm thường như hiện trạng: nhung lụa, tiện nghi, danh vọng, tiền
bạc, miệng lưỡi. Bằng những lời hứa này, Chúa Giêsu không muốn chúng ta
chỉ dựa vào kư ức về Ngài, về những lời dạy dỗ của Ngài. V́ Ngài biết
các tông đồ chỉ là phàm nhân, và chúng ta cũng vậy, nên trí nhớ sẽ phải
nhạt đi, có khi quên bẵng qua ḍng chảy thời gian, nhất là lúc gặp khó
khăn thử thách, cho nên Ngài gửi Thánh Thần xuống, để đảm bảo mọi sự cho
chính xác. Không hiểu ngày nay, người ta sáng kiến nhiều cách hiểu Kinh
Thánh, nhiều cách sống Phúc Âm bất chấp lời dạy dỗ của Giáo Hội, th́ có
phải là do Thánh Thần? V́ Thánh Thần chủ yếu ngự nơi Hội Thánh, nhất là
nơi các Công Đồng! Thí dụ thần học giải phóng, thần học phi châu, á châu,
giai cấp…Ngày nay người ta đ̣i quyền làm thần học theo ư ḿnh. Lời hứa
của Chúa Giêsu c̣n mang ư nghĩa nào không?
Lời từ giă của Chúa Giêsu mang ư nghĩa
đặc biệt: “Thầy để lại b́nh an cho anh em, Thày ban cho anh em b́nh an
của Thày. Thày ban cho anh em không theo kiểu thế gian. Anh em đừng xao
xuyến, cũng đừng sợ hăi.” Ngài không nói: vui lên, mọi sự không đến nỗi
tệ lắm đâu, mà nói Thày để lại b́nh an cho anh em. Thực tế, t́nh h́nh sẽ
trở nên cay đắng cho Ngài và cho các môn đệ. Ngài sẽ bị bắt và bị giết,
các môn đệ sẽ tan tác, trốn tránh. Nhưng Ngài ban cho họ b́nh an giữa
những hỗn loạn đó và chúng ta ngày nay giữa chiến tranh, hận thù, tranh
chấp kinh tế, chính trị, ư thức hệ, tôn giáo, luân lư. Liệu chúng ta có
giữ được b́nh an, hay xao xuyến, sợ hăi v́ thời cuộc? B́nh an Chúa ban
không phải b́nh an của thế gian. Nó là b́nh an trong tâm hồn. B́nh an
của một linh hồn thanh sạch, thánh thiện chứ không phải b́nh an vật chất
hay trí tuệ. B́nh an vật chất hệ tại cơm no, áo ấm, giàu sang, phú quư,
an toàn kinh tế, xă hội, những thứ mà thế gian t́m kiếm, nhưng mau qua
và chóng đổ vỡ. B́nh an trí tuệ hệ tại thoả măn óc ṭ ṃ, hiểu biết khoa
học, chân lư. B́nh an này cũng không bền vững và có giới hạn. B́nh an
Chúa ban không có giới hạn và bền vững măi măi, dầu thế giới có đổi thay
và xáo trộn. Nó hệ tại một tâm hồn trong trắng sạch tội, sống bạn hữu
với Thiên Chúa. B́nh an làm thoả măn hoàn toàn v́ bền vững vĩnh viễn. Đó
là thứ b́nh an của Chúa Thánh Linh trong Đức Giêsu Kitô. B́nh an thế
gian ban đổ vỡ khi t́nh h́nh trở nên tồi tệ, ră rời và thế giới không
thể nâng đỡ ḷng trí tín hữu. Sợ hăi vây bọc, tai hoạ vẫn đe doạ. B́nh
an của Chúa Giêsu khác hẳn. Ngài sẽ trở lại với họ, Thánh Thần sẽ kiện
cường họ để đối mặt với bất cứ đe doạ nào của thế gian, ma quỷ và xác
thịt, làm họ kiên vững trong ḷng yêu mến, ngay cả khi đối diện với
những cái chết đau đớn. Điều này đă được chứng minh suốt chiều dài lịch
sử của Giáo Hội với biết bao vị anh hùng tử đạo. Thật là một thứ b́nh an
chân chính và đáng khát khao.
Vậy chúng ta biết rơ ngày nay, thế giới
đang cần thứ b́nh an nào! Chúng ta không mua được thứ b́nh an này như
mua sắm vũ khí, bom đạn, hoả tiễn tầm xa-tầm gần, xe tăng, chiến thuyền
hay trên các bàn hội nghị quốc gia, quốc tế. Chỉ Thần Khí Chúa Kitô mới
ban tặng được. Cho nên chúng ta cần những nhà lănh đạo tài ba biết kính
sợ Thiên Chúa. Những người hướng dẫn thiên liêng đạo đức như Giaon
XXIII, Gioan Phaolô II, Têrêsa thành Calcutta. Chúng ta cần những Gandhi
Mahatma, những Edmond Tutu, Luther King Jr, những Rosa Park bất chấp
chiến tranh hàng ngày ở Dafur, Afgahnistan, Iraq.
Chúng ta cần thần khí chữa lành để hàn
gắn các rạn nứt trong Giáo Hội, Thần khí dạy chúng ta biết yêu thương
như Chúa Giêsu yêu, chứ không phải như mỗi người tưởng tượng, biện minh.
Chúng ta cần Thần khí ban hoà b́nh hoà giải trong các giáo xứ, các khu
xóm đang tan nát v́ tranh tụng, ghen tương, kiêu ngạo, khiêm nhường giả
vờ. Chúng ta cần Thần khí đổi mới niềm tin của chúng ta vào Chúa Cứu Thế
như hoàng tử hoà b́nh và cái nh́n về những kẻ kiến tạo b́nh an trên thế
giới, những kẻ từ chối bạo lực để giải quyêt các xung đột quốc tế, quốc
gia. Những kẻ thường bị chế giễu là nhu nhược, không tưởng trong hệ
thống chính trị hiện nay.
Đúng vậy, bài đọc sách Khải Huyền xem ra
đầy mơ mộng khi mô tả Giêrusalem mới. Người Lamă đă phá huỷ Gierusalem
cũ khoảng năm 70 Cn. Gierusalem mới không giống như vậy nữa, giả h́nh,
độc ác, lầm lạc, đóng đinh cả Thượng Đế. Mà là một Gierusalem hoàn toàn
thánh thiện, có Thiên Chúa ngự giữa dân Ngài, đến nỗi ở đâu hai, ba
người tụ họp nhân danh Chúa th́ Ngài ở đó. Trong diễn từ hôm nay, Chúa
Giêsu tuyên bố tương tự: “Thày và Cha Thày sẽ ngự giữa họ.” Dĩ nhiên
Gierusalem mới này sẽ được nhận biết bằng t́nh yêu giữa các cộng đoàn
dân cư và là dấu chỉ Chúa đang hiện diện với họ. Mỗi tín hữu, người yêu
của Thiên Chúa là ngôi đền của Người: “Những ai yêu mến Thày th́ sẽ giữ
lời Thày. Cha thày sẽ yêu mến kẻ ấy. Cha Thầy và Thầy sẽ đến ở lại với
người ấy.”
Khi nào th́ Chúa Giêsu trở lại? Các tín
hữu đang chịu bách hại thường hỏi như vậy. Họ ṃn mỏi trông đợi Ngài trở
lại để giải phóng họ khỏi t́nh trạng đen tối hiện tại. Cũng vậy nhiều
linh hồn đau khổ từng đặt câu hỏi tương tự. Nhưng chẳng ai biết câu trả
lời. Tuy nhiên lời giă từ của Chúa bảo đảm rằng Ngài sẽ trở lại và đă
thực hiện đúng như vậy, khi sai Chúa Thánh Thần xuống trên các tông đồ
và Giáo Hội tiên khởi. Thần Khí này, mà Chúa gọi là Đấng Bảo Trợ, Ủi an,
chính là sự hiện diện của Chúa giữa các tín hữu, để giúp chúng ta thấu
hiểu lời Ngài, và đ̣i hỏi chúng ta phải hành xử ra sao! Phiền là chúng
ta thường không nghe theo sự thúc đẩy của Thần Khí, mà thích làm theo ư
muốn, rao giảng gian dối, lừa đảo thiên hạ, đến nỗi thánh Phaolô phải
thốt lên: “Không hiểu thần khí nào đă thúc giục anh em!” Chúa Giêsu hứa
Thiên Chúa Cha sẽ gửi Thần Khí xuống. Và như Ngài đối với các tông đồ
thế nào, th́ Thần Khí sẽ đối với Hội Thánh như vậy. Cho nên người ta
lắng nghe Hội Thánh là lắng nghe Chúa Giêsu, vâng lời Hội Thánh là vâng
lời Chúa Kitô. Chúa Giêsu chỉ dẫn phải yêu mến nhau thế nào, th́ Thần
Khí sẽ làm đúng như vậy, ban khả năng để yêu mến nhau. Những lời Chúa
dạy dỗ có nguy cơ bị hiểu sai hoặc lăng quên, th́ Thần khí sẽ mở ḷng
cho họ nhớ lại, cứ như vậy cho đến tận cùng thời gian, qua các thế hệ
tín hữu. Cho nên giáo lư của Hội Thánh là tinh tuyền, tông truyền và phổ
thông.
Do đó, mặc dù chúng ta chẳng c̣n được
trông thấy Chúa thể lư kiểu như các tông đồ quanh bàn tiệc ly, chứng
kiến Ngài rửa chân cho các ông, lắng nghe bài diễn từ cuối cùng và lời
hứa bảo đảm. Nhưng giă từ của Ngài là thực sự. Tuy Ngài không c̣n hiện
diện nữa, nhưng chúng ta phải tin Ngài vẫn ở với Hội Thánh bằng h́nh
thức khác, lúc ấy các ông không nghĩ ra được và ngày nay chúng ta vẫn
c̣n nghi ngờ. Ngài ở với nhân loại qua Chúa Thánh Thần, tặng phẩm của
Thiên Chúa Cha, đúng như lời Chúa phán. Nếu chúng ta đặt tin tưởng vào
sự hiện diện của Thần Khí, th́ sẽ được Ngài hướng dẫn, dạy bảo. Linh hồn
sẽ được b́nh an bất chấp những hỗn loạn của thế gian. Giáo Hội sẽ vững
chắc trên con đường thánh thiện. Nói dễ hơn làm. B́nh an này chúng ta
không tạo nên được do tài năng riêng của ḿnh mà hoàn toàn cậy nhờ vào
Thiên Chúa. Người ta có thể gọi đó là tặng phẩm mà cũng có thể đặt tên
là gia sản của Đức Kitô, Đấng chẳng bao giờ muốn rời bỏ nhân loại. Liệu
lúc này chúng ta có sẵn sàng mở rộng ḷng ḿnh đón nhận Thần Khí Chúa?
Nói th́ dễ nhưng làm khó lắm! Bao nhiêu linh hồn nói rồi đấy, nhưng
chẳng mấy ai làm! Nếu thực sự làm th́ người ta chẳng c̣n tầm thường như
hiện trạng. Chúng ta cầu xin Thánh Thể uốn nắn tâm trí ḿnh trong thánh
lễ này, ngơ hầu giúp chúng ta thực sự sống đức tin cho đến lễ Năm Mươi.
Chúa phục sinh thực sự hiện diện với
chúng ta hôm nay trên bàn thờ, giống như Ngài hiện diện xưa trong bữa
tiệc ly, chỉ có khác ở thể thức. Bữa ăn chúng ta chia sẻ chính là Ḿnh
Máu Ngài. Ḿnh Máu ấy cũng giữ chúng ta ở lại trong lời hứa. Thánh Thần
sẽ ban cho mỗi người kư ức sống động về Chúa Giêsu, về lời hứa của Ngài.
Không phải kư ức đă qua từ lâu lắm , nhưng là Chúa Giêsu hiên diện,
hướng dẫn, ủi an mọi người cho kiếp sống muôn thủa. Amen, Alleluia.
Đaminh Tạ Văn Tịnh op
Ai Yêu
Mến Thày Hăy Giữ Lời Thày
(Ga 14,23-29)
Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể
Cũng như lẽ thường: căn điểm của t́nh yêu
là trao ban và lănh nhận. Nhưng điều ban tặng của Chúa cho thế gian
không phải là vàng bạc hay ngọc quư như người ta vẫn trao cho nhau, mà
đó là: Lời Hằng Sống, Thịt Máu và Thánh Thần Chúa. Đây là ba yếu tốt căn
bản của t́nh yêu mà Chúa trao ban cho các môn đệ cũng như cho Hội thánh
của Người.
Không khí của tuần phụng vụ thánh này vẫn
c̣n đọng lại trong tâm hồn chúng con niềm vui của ngày Chúa phục sinh;
nhưng đồng thời, xen lẫn trong đó là những cảm xúc qua lời nhắn nhủ của
Chúa khi Người c̣n đang ở với các Tông đồ: Ai yêu mến Thầy th́ sẽ giữ
lời Thầy; Thầy để lại b́nh an cho anh em; và, Thầy sẽ ban Đấng Bảo Trợ
đến với anh em.
Lạy Chúa Giêsu,
Thực tại cuộc sống hôm nay, xem ra, như
đang diễn tả cách sống động Lời Hằng Sống của Chúa. Càng ngày người ta
đến nhà thờ càng đông để thờ phượng kính mến Chúa. Các h́nh thức sinh
hoạt tâm linh ngày một phong phú và ư nghĩa hơn. Nhiều ngôi nhà thờ được
xây dựng khang trang và lộng lẫy. Mặt khác, trong xă hội, rất nhiều
người đang dấn thân vào những hoạt động từ thiện, cứu giúp những mảnh
đời bất hạnh. Nhờ đó, người nghèo khổ được trợ giúp, người đau yếu được
quan tâm, người tật nguyền có hạnh phúc…. Dường như những đ̣i hỏi của
Tin Mừng: kính Chúa và yêu người đă và đang được thể hiện bằng những
hành động thực tế.
Tuy nhiên, đó chỉ là những mặt tích cực
quá nhỏ bé trong thời đại hôm nay. Mặt trái của đời sống xă hội lại diễn
tả ngược hẳn với tinh thần của Chúa. Cuộc sống phàm tục hoá, đang trở
nên phổ biến, tạo nên sự què quặt về nhân phẩm cũng như đạo đức. Mối ưu
tư lớn nhất của con người thời nay là kinh tế, an ninh, sức khỏe, sắc
đẹp, giàu sang và tiếng tăm, chứ không phải là việc t́m kiếm Nước Thiên
Chúa. Những lợi ích vật chất và danh dự khiến cho người ta hành động
trái với luân thường đạo lư. Sự coi thường những giá trị truyền thống
trong nếp sống gia đ́nh đang là nguy cơ gây nên những tan vỡ trong đời
sống hôn nhân. Bên cạch đó, phần đông các bạn trẻ ưa thích lối sống tự
do, phóng đăng, vô cảm với những giá trị sống và dễ dàng bị lôi cuốn vào
các tệ đoan của thời đại. Người ta sẵn sàng lựa chọn quyền lực và vinh
quang thay v́ t́nh yêu và khổ giá…. Đâu là việc tuân giữ Lời Chúa ?.
Hằng ngày, chúng con được lănh nhận Lời
Hằng Sống, cách nghiêm trang, nơi thánh đường; nhưng khi bước ra ngoài
xă hội, Lời ấy nhanh chóng bị quên lăng. Tâm hồn chúng con trở nên những
mảnh đất khô cằn, làm cho hạt giống Lời Chúa không thể sinh ra hoa trái.
Công việc bận rộn cuốn hút chúng con chạy theo những nhu cầu đ̣i hỏi của
thời đại hơn là trở về với Chúa, không gian trong tâm hồn trở nên quá
chật hẹp để Chúa khó có thể ngự vào.
Nguyện xin Chúa ban ơn Thánh Thần cho
chúng con hầu chúng con có thể nhận ra những giá trị đích thực của cuộc
sống hôm nay, xin giúp chúng con chiến thắng những cám dỗ của thế gian
và không bị đồng hóa với những mặt trái của đời sống xă hội.
Sau khi trỗi dậy từ cơi chết, nhiều lần
Chúa đă hiện ra với các môn đệ và ban b́nh an cho các ông. Xin Chúa cũng
ban ơn b́nh an cho tâm hồn chúng con ngơ hầu chúng con có thể chia sẻ
b́nh an đó cho những người mà chúng con gặp gỡ.
Các môn đệ đă trung thành làm chứng cho
Chúa dù phải hy sinh cả tính mạng. Xin Chúa ban cho chúng con luôn trung
thành với những đ̣i hỏi của Tin Mừng, biết quên ḿnh để phục vụ Chúa,
biết tuôn trào tinh yêu thương và săn ḷng trợ giúp những cảnh đời khốn
khổ, bất hạnh bằng những hành động thiết thực chứ không chỉ dừng lại ở
lư thuyết.
Cho đi t́nh yêu, nơi đồng loại, là phương
thế để chúng con thể hiện t́nh yêu của chúng con đối với Chúa. Amen.
Đỗ Lực op
MỘT BIẾN CỐ Ư NGHĨA
(Ga 14:23-29)
Năm 1917, vào đúng năm kết thúc Thế Chiến
Thứ Nhất, một biến cố đă xảy ra tại Fatima. Mục đích huy động đoàn con
cùng Mẹ Maria bước theo Chúa Kitô. Mẹ ban hành Ba Mệnh Lệnh như phương
tiện giúp nhân loại đạt tới ḥa b́nh. Kèm theo Ba Mệnh Lệnh là ba Bí Mật
Fatima cũng được Mẹ “bật mí” cho ba trẻ Fatima. Ba Mệnh Lệnh Fatima khởi
nguồn từ Trung tâm Tin Mừng.
SỨC MẠNH LỜI CHÚA
Trung tâm Tin Mừng chính là ḷng “yêu mến
Thày,” (Ga 14:23) v́ “Thày là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống.”(Mt
16:16) T́nh yêu Chúa Kitô sẽ quyết định tất cả. T́nh yêu và sự
trung tín gắn bó mật thiết với nhau, như nhân với quả. Thực tế, sự trung
tín không ngừng sáng tạo. Chỉ những ai yêu mến và vâng nghe lời Chúa,
mới có thể đón nhận mạc khải sâu xa nhất về Chúa mà thôi. Trái tim con
người thật nhỏ bé. Vậy mà khi yêu, trái tim con người có thể chiếm đoạt
trọn vẹn trái tim Thiên Chúa. Một sự chênh lệch khủng khiếp ! Nhưng đó
lại là điều Chúa Giêsu quả quyết trong Ga 14:23. Nhân danh Chúa Giêsu,
Chúa Cha sẽ sai Thánh Linh đến làm cho Người hiện diện sống động trong
những tâm hồn yêu mến Chúa.
Nếu không liên kết sâu xa với Chúa, chúng
ta không thể hiểu sức mạnh kỳ diệu của Lời Chúa. Sở dĩ “Lời Thày nói với
anh em là thần khí và là sự sống,” (Ga 6:63) v́ “là lời của Chúa Cha,
Đấng đă sai Thày.” (Ga 14:24) Nguồn gốc Thiên giới đó bảo đảm Lời Chúa
hoàn toàn siêu việt và chân thực. Bởi thế, nếu có sự hiện diện đích thực
của Chúa Cha và Chúa Con trong tâm hồn, chúng ta có thể sống trong thế
giới Thiên Chúa. Từ đó, mới hiểu được đ̣i hỏi duy nhất của Lời Chúa là
t́nh yêu. Chỉ có t́nh yêu mới đọc và hiểu được ngôn ngữ t́nh yêu. Ḷng
yêu mến Thày luôn được bù đắp xứng đáng.
Ai sẽ làm cho Thiên Chúa hiện diện trong
chúng ta, nếu không phải là Thánh Linh ? Đúng hơn, Thánh Linh, t́nh yêu
nối kết Chúa Cha và Chúa Con, cũng sẽ dẫn đưa chúng ta vào cuộc hiệp
thông tuyệt vời với Thiên Chúa.
Cũng chính Thánh Linh sẽ dạy và làm cho
chúng ta nhớ lại mọi điều Chúa nói (x. Ga 14:26). Không những thế, Người
c̣n làm cho Lời Chúa có sức sống trong tâm hồn và cộng đoàn. Chính Người
“bơm” thần khí và sự sống vào Lời Chúa. Nhờ thế, Lời Chúa có thể xâm
nhập vào mọi nền văn hóa và biến cải mọi tâm hồn. Thánh Linh giúp Lời
Chúa nhập thể vào cuộc sống. Không có Thánh Linh, Lời Chúa sẽ trở thành
những hàng chữ vô hồn. Thánh Linh vô cùng cần thiết cho sự sống và sự
phát triển Giáo hội.
Một khi đă sống trọn vẹn trong t́nh yêu
và dưới sự chở che của Chúa, môn đệ rất yên tâm. Đó không phải là thành
quả tự nhiên, nhưng là kết quả của lời hứa và bao hy sinh vô cùng cao
quư của Chúa trên cây thập giá. Sự b́nh an đó tươi đẹp như ánh sáng Phục
sinh. B́nh an vững chắc như sự sống của chính Đấng Phục Sinh vậy ! B́nh
an thế gian chỉ là im tiếng súng. B́nh an của Chúa Kitô bảo đảm vững
chắc trong mọi hoàn cảnh. Từ nay chúng ta không c̣n sợ ǵ trong hiện tại
hay tương lai. Chính Thánh Linh sẽ đổ tràn tâm hồn tín hữu sự b́nh an
của Đức Kitô (1) Nếu sẵn sàng đón nhận sự b́nh an của Chúa, chúng ta sẽ
chiến thắng tội lỗi, nỗi hoài nghi, sự sợ hăi và mọi đối lực trong ta.
Hơn nữa, sự b́nh an đó c̣n được bảo đảm vững chắc v́ Chúa sẽ nắm toàn
quyền trên trời dưới đất khi về cùng Chúa Cha (x. Ga 14:28).
Nếu Chúa không về cùng Chúa Cha, làm sao
Thánh Linh được sai đến ? Nếu Thánh Linh không đến, làm sao nhân loại
nghe loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa ? Thánh Linh không những bảo đảm
độ chính xác trong Tin Mừng, nhưng c̣n giúp tín hữu trung thành tuân giữ
giáo huấn của Chúa. Giá trị Tin Mừng hoàn toàn tùy thuộc vào Thánh Linh,
Đấng sẽ giúp các môn đệ nhớ lại những ǵ Chúa dạy. Họ là những chứng
nhân sống động của Lời Chúa. Chắc chắn Tin Mừng là những bản ghi nhận
chính xác những điều Chúa nói và làm (x. 1 Cr 2:10-14), dưới cái nh́n
của từng thánh kư.
H̉A ĐIỆU TUYỆT VỜI
Mặc dù Thày đă cống bố đầy đủ Lời Chúa,
nhưng các môn đệ cần phải được soi sáng mới thấu hiểu dần. Ngay từ thời
các tông đồ, nếu không có Chúa Thánh Linh, chắc chắn không thể khai
thông những bế tắc khi áp dụng Lời Chúa vào hoàn cảnh cụ thể của Giáo
hội. Huống chi, trong thế hệ sau này, cần phải có Thánh Linh, tín hữu
thấy ư nghĩa tiềm ẩn trong Lời Chúa. Nói khác, trải qua bao đời, Kitô
hữu mới thấu triệt ư nghĩa tṛn đầy của Lời Chúa. (2) Bởi đó, nh́n về
tương lai, Chúa tiên đoán : “Đấng Bảo Trợ sẽ dạy anh em mọi điều,” (Ga
14:26) và “Người sẽ lấy những ǵ là của Thày mà loan báo cho anh em.” (Ga
16:14) Biến cố chỉ có một. Nhưng việc hiểu biết biến cố ấy tiến triển
theo thời gian.
Khi hiện ra tại Fatima, Đức Mẹ cũng muốn
nhắc lại ư nghĩa then chốt của Tin Mừng : “Anh em hăy sám hối, v́ Nước
Trời đă đến gần.” (Mt 3:2) Mẹ không muốn mọi người tập trung vào Mẹ,
nhưng hướng tới điểm ṇng cốt trong Tin Mừng Đức Giêsu Kitô : Chúa Cha
yêu thương mọi người đến nỗi họ sẽ ăn năn sám hối. Người ban ân sủng cần
thiết để họ có thể sống trọn t́nh con thảo với Chúa. Như Chúa Thánh Linh,
Đức Maria cũng nhắc mọi người nhớ lại lời Đức Giêsu đă dạy (x. Ga 14:26)
về công việc chuẩn bị đón nhận Nước Trời. Sứ điệp Fatima khẩn thiết kêu
gọi mọi người trở về với Chúa. Chắc chắn Fatima là biến cố cận đại có ư
nghĩa tiên tri lớn nhất.
Mặc dù được công nhận là “mạc khải tư,”
biến cố Fatima “không có vai tṛ hoàn thành Mạc Khải cuối cùng của Đức
Kitô, nhưng giúp chúng ta sống trọn vẹn Mạc Khải của Chúa trong một giai
đoạn nhất định của lịch sử.” (3) Như vậy, “mạc khải tư” giúp ta hiểu Mạc
Khải cuối cùng của Chúa. Ba Mệnh Lệnh Fatima rơ ràng minh họa và vang
vọng toàn bộ Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô. Ngay từ Mệnh Lệnh đầu, Mẹ Maria
đă hợp ư với Con kêu gọi mọi người ăn năn sám hối. Đó là con đường duy
nhất để đón nhận Nước Trời. Không sám hối, làm sao có sự công chính ?
Không công chính làm sao t́m được “sự b́nh an và hoan lạc trong Thánh
Thần” (Rm 14:17) ?
Nếu không công chính, Mẹ Maria đă không
thể được diễm phúc làm Thánh Mẫu Thiên Chúa. Không công chính, Mẹ đă
không thể thưa “xin vâng” ư Chúa. “Lời thưa xin vâng của Mẹ Maria, phát
xuất từ ḷng Mẹ, đă biến đổi lịch sử thế giới, v́ đem Đấng Cứu Thế vào
trần gian,” (4) để cứu chuộc và đem lại b́nh an cho toàn thể nhân loại.
Sứ điệp b́nh an đó đă vang dội tại
Fatima. Mẹ lo lắng đến số phận toàn thể nhân loại. Bởi vậy, Mẹ đă t́m
một con đường cứu độ mọi người. Như vậy có sự ḥa hợp tuyệt vời giữa sứ
điệp Fatima và Tin Mừng. Fatima đă hội đủ tiêu chuẩn để trở thành một
mạc khải tư có giá trị thực sự, v́ hướng về chính Đức Kitô. Nhờ sứ điệp
Fatima, tín hữu nhận ra Đức Kitô hiện diện trong thời đại ḿnh. Nhờ tin
tưởng như thế, chúng ta có thể hiểu những dấu chỉ thời đại và đáp ứng
ngay. (5)
Để củng cố cho Ba Mệnh Lệnh Fatima,
h́nh như Mẹ Maria c̣n t́m cách “răn đe” qua những thị kiến kinh hoàng,
gói gọn trong ba bí mật Fatima. Phần I và II đặc biệt nói về cảnh khủng
khiếp trong hỏa ngục, việc sùng kính Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ, Thế Chiến Thứ
Hai, và sau cùng tiên báo về sự thiệt hại vô vàn nước Nga sẽ gây ra cho
nhân loại v́ từ bỏ niềm tin Kitô và đi theo thuyết Cộng sản toàn trị. Đó
là những thị kiến về tương lai thế giới. ĐGH Gioan Phaolô II đă quyết
định công khai hóa phần III “bí mật Fatima.” Theo đó, phải chăng nhân
loại sắp bị hủy diệt hoàn toàn ?
Chúng ta phải hiểu những h́nh ảnh răn đe
đó theo nghĩa nào ? Khi c̣n làm Bộ Trưởng Thánh Bộ Đức Tin, ĐGH
Bênêđictô XVI đă có những giải thích tuyệt vời về các thị kiến đó. Thiên
thần cầm gươm lửa đứng bên trái Thánh Mẫu Thiên Chúa nhắc lại những h́nh
ảnh tương tự trong Sách Khải Huyền. Đó như những lời đe loi về ngày tận
thế. Thị kiến cho thấy ánh sáng huy hoàng của Thánh Mẫu Thiên Chúa đầy
quyền năng chống lại lực lượng hủy diệt. Nhờ đó, Mẹ kêu gọi mọi người
sám hối. Đây là cách nhấn mạnh đến tầm quan trọng của tự do con người :
tương lai không phải là một sự kiện không thể thay đổi. Thực vậy, toàn
thể thị kiến muốn đem tự do vào toàn cảnh và đưa tới một chiều hướng
tích cực. Thị kiến mang ư nghĩa huy động các lực lượng theo một chiều
hướng đúng đắn. Thị kiến muốn nói đến những nguy hiểm và chỉ lối thoát
hiểm. Bằng chứng cụ thể, ngày 13.05.1981, ĐGH Gioan Phaolô II bị mưu sát
tại quảng trường thánh Phêrô. ĐGH đă thoát chết. Người tự giải thích tại
sao ḿnh sống sót : “… chính tay một người mẹ đă hướng viên đạn đi nẻo
khác và trong cơn xao động, Giáo Hoàng đă dừng lại trước ngưỡng cửa tử
thần.” (6) “Bàn tay một người mẹ” làm lệch hướng viên đạn định mệnh, cho
thấy không có một định mệnh bất biến. Đức tin và lời cầu nguyện là những
sức mạnh ảnh hưởng tới lịch sử. Cuối cùng, lời cầu nguyện c̣n mạnh hơn
những viên đạn và đức tin có sức mạnh lớn hơn các đạo quân. (7) Đó là lư
do tại sao sau khi kêu gọi sám hối, Mẹ Fatima khuyên chúng ta lần hạt
Mân Côi.
Như vậy, Mệnh Lệnh Fatima giúp chúng ta
đạt đến sự b́nh an của Chúa. Chỉ có b́nh an này mới làm cho chúng ta lớn
lên trong đức tin, cậy và mến. Đó cũng là mục đích Mẹ nhắm tới khi hiện
ra tại Fatima. Mẹ luôn quan tâm tới đoàn chiên của Chúa. Như bạn đời của
Chúa Thánh Linh, Mẹ dạy chúng ta mọi điều và làm chúng ta nhớ lại những
điều Chúa đă nói trong Tin Mừng (x. Ga 14:26). Để cứu thế giới và nhất
là để bảo vệ đoàn chiên Chúa, Mẹ không thể không lên tiếng để ngăn chặn
chó sói đột nhập phá hoại đoàn chiên.
[1]
Xin coi Pl 4:6,7 để biết thêm vê kinh nghiệm sự b́nh an của
Thiên Chúa.
[2]
Giáo Lư Công Giáo, số 66.
[4]
Ratzinger, J., Giải thích “bí mật” Fatima.
[6]
ĐGH Gioan Phaolô II, 13.05.1994.
|