| | Chúa Nhật
XXIV Thường Niên - Năm C
Xh 32:7-11.13-14 ; 1 Tm 1:12-17 ; Lc 15:1-32
An Phong op : Ḥa Giải Là Từ Ngữ Mới Của Tha Thứ
Như
Hạ op : Thiên Chúa Từ Bi
Fr Jude Siciliano,
op : Bởi v́...
đă mất, nay lại t́m thấy
Fr
Jude Siciliano op : Ngài đồng bàn với những kẻ tội lỗi…
G. Nguyễn Cao Luật
op : Hăy Chia Vui Với Tôi
Giacôbê Phạm Văn
Phượng op : Quyết tâm trở về
Vinc
Nguyễn Trọng Đại op : Trên Trời Sẽ Vui Mừng Khi Người Tội Lỗi Hối Cải
Đỗ Lực op :
Anh Em C̣n Nợ…
An Phong op
Ḥa Giải
Là Từ Ngữ Mới Của Tha Thứ
Lc 15:1-32
Chủ đề Tin mừng chúa nhật 24 thường niên C là ḷng thương xót của Thiên Chúa.
Đức Giêsu đă nói với những người Pharisêu 3 dụ ngôn : dụ ngôn một con chiên
lạc mất trong số 100 con chiên; dụ ngôn một đồng bạc bị mất trong số 10 đồng;
và dụ ngôn người con hoang đàng (một trong hai anh em). Mức độ càng tăng từ
cấp độ thứ nhất đến cấp độ thứ ba cho thấy ḷng thương xót của Thiên Chúa
đối với người tội lỗi thật lớn lao. Một trên một trăm( 1/100) và một trên
mười (1/10) không đáng giá bằng một trên hai (1/2). Ḷng thương xót của
Thiên Chúa được thể hiện qua cung cách của người cha già luôn sẵn sàng mở
rộng ṿng tay đón người con hoang đàng trở về, tha thứ cho hắn trước khi hắn
mở miệng xin lỗi Cha. Thiên Chúa luôn chờ đón mọi người chúng ta quay trở về
trong ṿng tay yêu thương của Người.
Khi bắt đầu sứ vụ của ḿnh, Đức Giêsu đă long trọng tuyên bố trước mặt mọi
người :
"Thánh Thần Chúa ngự trên tôi,
bởi Người đă xức dầu cho tôi
sai tôi đem Tin mừng cho người nghèo khó
ban bố ân xá cho kẻ tù đày
cho người đui mù được thấy
cho kẻ bị áp bức được giải oan
loan báo năm hồng ân của Chúa"
Niềm vui và hạnh phúc đến với những ai tội lỗi khi đă gặp được Đức Giêsu : -
Với người bất toại : "Tội lỗi của anh đă được tha" ; Với Lêvi, người thu
thuế : "Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà là kẻ tội lỗi" ;
Với Giakêô : "Con Người đến để t́m kiếm
những ǵ đă hư mất".
Những người đau khổ, bé mọn cảm thấy ḿnh được yêu thương nâng đỡ khi t́m
gặp Đức Giêsu : Với người phung hủi : "Tôi muốn anh được sạch" ; Với người
nghèo : "Phúc cho những người nghèo" ; Với các trẻ nhỏ : "Hăy để trẻ nhỏ đến
cùng tôi, đừng ngăn cấm chúng, v́ Nước Trời thuộc về những người giống như
chúng". Với người phụ nữ băng huyết : "Ḷng tin của chị đă chữa chị, hăy đi
b́nh an".
+
Người không để người góa bụa cô thế cô thân ra về mà không một lời an ủi.
+
Người trả lại sự sống cho đứa con duy
nhất của bà góa thành Naim.
+
Người ngợi khen bà góa bỏ hai đồng xu vào ḥm tiền dâng cúng.
Cao điểm khuôn mặt dịu hiền của Đức Giêsu bộc lộ khi Người hấp hối trên thập
giá : "Lạy Cha, xin tha cho chúng, v́ chúng không biết việc chúng làm".
Kitô hữu là người đứng bên bờ vực thẳm, nhích lên một milimét nữa là rớt
xuống vực thẳm như : Vực thẳm của nạn ghiền ma túy ; Vực thẳm của rượu chè,
cờ bạc ; Vực thẳm của nạn mại dâm.
Đó
là vực thẳm mà NGƯỜI CON THỨ rơi vào.
Vực thẳm nguy hiểm hơn, khó nhận thấy hơn, là vực thẳm của NGƯỜI ANH CẢ : Khi
cho rằng chu toàn lề luật là đủ ; khi cho rằng ḿnh phục vụ nhiều, nào đi
học, dạy giáo lư, tập hát... cho ḿnh quyền đ̣i hỏi. Đó là một điều ích kỷ
khi phục vụ. Khi tưởng rằng ḿnh thờ Thiên Chúa, nhưng thực ra là chỉ thờ
một bức tượng khô cứng, bụi bậm. Và v́ thế họ dễ phê phán người khác.
Lạy Chúa,
Ngài kêu gọi chúng con phải tha thứ cho nhau luôn măi.
Mỗi ngày nhiều biến cố xảy ra,
nhiều sự hiểu lầm to và nhỏ khiến chúng con phiền ḷng,
mỗi ngày vang lên tiếng kêu mời hăy tha thứ cho nhau.
Nhưng, lạy Chúa, con lại không muốn tha thứ,
v́
con thấy phải hạ ḿnh để tha thứ.
Thế rồi con nh́n Chúa trên thập giá,
Chúa đă phải can đảm lắm và yêu mến nhiều
th́ mới có thể thốt lên lời "Lạy Cha, xin tha cho chúng...".
Xin cho chúng con sức mạnh để tha thứ luôn măi.
Như Hạ op
THIÊN CHÚA TỪ
BI
Lc 15:1-32
Niềm vui phát xuất từ
đâu ? T́nh yêu là một nguồn vui lớn. Hôm nay, Đức Giêsu muốn mạc khải bản
chất t́nh yêu Thiên Chúa qua những nét từ bi lạ lùng. Nói khác, ḷng thương
xót là chiều kích thực tế của t́nh yêu Thiên Chúa đối với loài người.
L̉NG XÓT THƯƠNG.
Đức Giêsu đă phải dùng ba dụ ngôn liên tiếp
để diễn tả phần nào một khía cạnh của t́nh yêu Thiên Chúa. Ḷng xót thương
chính là một đặc tính vô cùng cao quí của Thiên Chúa. Nếu không đầy ḷng
thương xót, chắc chắn Thiên Chúa không bao giờ có thể đi sâu vào ḷng người
đến thế. Chính v́ ḷng thương xót trời bể, Thiên Chúa mới cảm thấy "vui mừng
v́ một người tội lỗi ăn năn sám hối." (Lc 15:7, 10) Niềm vui không đến với
Chúa qua đường lối thông thường "có vay có trả". Ḷng thương xót đó rất
nhiệm mầu nhưng cũng rất thực tế. Chẳng ai hiểu thấu bản chất ḷng xót
thương. Nhưng ai cũng có thể cảm nhận ḷng xót thương đó. Chính v́ thế Đức
Giêsu phải dùng nhiều dụ ngôn để khai sáng những chiều cạnh bí hiểm của mầu
nhiệm lớn lao này.
Trước hết, ngược với mọi toan tính thường
t́nh, người Mục tử nhân lành dám để chín mươi chín con chiên ngoài đồng
hoang, để t́m con chiên bị mất (x. Lc 15:4) Ngoài đồng hoang chín mươi chín
con chiên đó dễ trở thành mồi ngon cho bọn chó sói hay những quân đạo chích.
Nhưng v́ ḷng xót thương đối với con chiên thất lạc, ông đă quên tất cả. Ông
liều mạng xông vào những chỗ nguy hiểm để t́m lại một giá trị đă mất. Mỗi
người là một giá trị độc đáo đối với Thiên Chúa. Không ai không được hưởng
ḷng thương xót của Chúa. Chính Chúa đă âu yếm gọi con người là "con chiên
của tôi?" (Lc 15:6) Thiên Chúa t́m lại được tội nhân, giống như t́m lại được
h́nh ảnh ḿnh. Thánh Phaolô đă bám chặt vào ḷng thương xót vô bờ của Thiên
Chúa nơi Đức Giêsu, đến nỗi ông dám thách thức : "Ai có thể tách chúng ta ra
khỏi t́nh yêu của Đức Kitô ?" (Rm 8:35) T́nh yêu Đức Kitô là nguyên nhân tạo
nên mọi giá trị đích thực.
Giá trị đó có thể ví như đồng quan người phụ
nữ đánh mất. Mất một đồng bà cũng cặm cụi t́m kiếm. T́m được rồi, "bà ấy mời
bạn bè, hàng xóm lại" (Lc 15:9) chung vui với bà. Niềm vui đó thật chẳng có
ư nghĩa ǵ đối với những người giàu có. Nhưng đối với bà, một đồng thực là ư
nghĩa và quan trọng. Cũng như một con chiên vẫn có một giá trị hơn chín mươi
chín con kia. Thiên Chúa cần phẩm chứ không cần lượng. Quả thế, Thiên Chúa "sẽ
vui mừng v́ một người tội lỗi ăn năn sám hối, hơn là v́ chín mươi chín người
công chính không cần phải sám hối ăn năn." (Lc 15:7) Chỉ có tấm ḷng sám hối
mới tạo nên tất cả giá trị con người. Đó là một sự thật !
Sự thật đó có thể t́m thấy nơi người con
hoang đàng. Trong cảnh cùng cực, anh đă thấy tất cả sự thật và ư nghĩa cuộc
đời. Anh không thể chịu nổi cảnh phi lư : "Biết bao nhiêu người làm công cho
cha ta được cơm dư gạo thừa, mà ta ở đây lại chết đói !" (Lc 15:17) Không
thể phung phí cuộc đời trong vô vọng như thế ! Khi trở về, đụng chạm trực
tiếp với người cha bao dung, anh đă để những giọt nước mắt tự do tuôn rơi.
Anh chẳng c̣n ǵ ngoài ḷng sám hối. Nhưng đó mới là tất cả lư do khiến
người cha nhân lành "mở tiệc ăn mừng !" (Lc 15:23) Ông như t́m được một giá
trị vô cùng lớn lao trong người con trở về đó, "v́ con ta đây đă chết mà nay
sống lại, đă mất mà nay lại t́m thấy." (Lc 15:24) Chính ḷng sám hối có khả
năng phục hồi tất cả những ǵ đă mất và tạo được niềm vui vô cùng lớn lao.
Phải có một con mắt nhân hậu như người cha
mới thấy được giá trị cao cả của tấm ḷng sám hối. Người con thứ đă trải qua
những giây phút tan nát như thế và đă cảm thấy phải lệ thuộc hoàn toàn vào
t́nh thương của cha. Nhờ ḷng sám hối, người con thứ mới hưởng được một bữa
tiệc thịnh soạn. Ngồi giữa bàn tiệc với "thịt con bê béo" (Lc 15: 27) và "đàn
ca nhảy múa" (Lc 15:25), chắc chắn anh không thể tưởng tượng được ḷng cha
bao dung tới mức đó ! So với lúc c̣n xa cha, "anh ta ao ước lấy đậu muồng
heo ăn mà nhét cho dầy bụng, nhưng chẳng ai cho," (Lc 15:16), thật là một
trời một vực ! Anh thấy rơ cảnh trái ngược giữa t́nh cha nồng thắm và t́nh
đời bạc đen.
Đại diện cho t́nh đời đen bạc đó là người anh
cả, một con người chỉ biết sống với lư trí. Anh không thể hiểu được con tim
người cha. Anh chỉ sống theo lẽ công b́nh. Suốt đời phục vụ cha, anh chỉ
nhằm "một con dê con để ăn mừng với bạn bè." (Lc 15:29) Anh lại c̣n cố cắt
nghĩa cho cha hiểu về công trạng cồng kềnh của ḿnh. Bởi vậy anh không thể
chung vui với cha. Không cảm thấy mất mát khi em ĺa xa mái ấm, nên anh cũng
chẳng thấy t́m lại được ǵ sau khi em trở về. Cha không chỉ bao dung với
người em, nhưng cũng quảng đại với người anh nữa : "Tất cả những ǵ của cha
đều là của con." (Lc 15:31) Anh hoàn toàn không hiểu biết chút ǵ về tấm
ḷng trời bể của cha. Bởi thế anh không ḥa nhập và chia sẻ với cha trong
nếp sống gia đ́nh. Anh không có một cái nh́n khoan dung và bao quát để đi
sâu vào tâm hồn thân phụ. Tâm hồn anh hoàn toàn khép kín với cha và em.
H̉A B̀NH VÀ L̉NG THƯƠNG XÓT.
Ngày nay, chính sự khép kín đó là sinh ra mọi
thứ chiến tranh. Mặc dầu sống giữa thời đại đầy ắp những phương tiện thông
tin hiện đại, người ta vẫn không hiểu biết nhiều về nhau. Bởi vậy mới có
những thái độ bất khoan dung và thù nghịch. Biến cố 11/9/2001 tại Hoa Kỳ là
một bằng chứng. Hàng ngàn người vô tội tại World Trade Center đă phải thiệt
mạng v́ sự thù hận. "Không thể kiếm được từ nào để diễn tả ảnh hưởng của một
trong những cuộc tấn công đẫm máu nhất thời đại." (Federico Lombardi, CWNews
111/9/2001) Toàn thể thế giới kinh hoàng khi nh́n thấy hai chiếc phản lực
dân sự do bọn không tặc lao vào hai ngôi nhà chọc trời, trung tâm dịch vụ
thế giới. Trong phút chốc hai biểu tượng của đất nước giàu có nhất thế giới
đă sụp đổ tan tành, đè chết hàng ngàn người dưới đống gạch vụn.
Không ngờ con người có thể có những hành động
quái ác như vậy ! Đó là "một hành động lăng mạ khủng khiếp tới phẩm giá con
người." (ĐGH Gioan Phaolô II, CWNews 12/9/2001) Con người chưa thể thương
yêu nhau v́ chưa ư thức về ḷng xót thương Chúa dành cho mỗi người và cộng
đồng nhân loại. Ḷng xót thương của Thiên Chúa chính là động lực giúp cho
con người nh́n nhau như anh em và tha thứ cho nhau. Trong hoàn cảnh nhân
loại, không thể t́m thấy điều kiện lư tưởng cho t́nh yêu. Nếu cứ chờ đợi có
đủ lư do mới yêu nhau, con người sẽ thất vọng, v́ trần gian là một cơi tương
đối. Chỉ có ḷng thương xót hay ḷng khoan dung mới giúp nhân loại tồn tại.
Trước thảm họa khủng bố hôm nay, chúng ta
phải làm ǵ ? "Các nhà lănh đạo thế giới đừng để sự thù hận và tinh thần trả
thù thống trị ḿnh, hăy làm tất cả những ǵ có thể làm để ḱm giữ những vũ
khí phá hoại gieo rắc sự hận thù và chết chóc mới và cố gắng chiếu ánh sáng
vào nơi tăm tối của mối lo âu nhân loại bằng những việc làm ḥa b́nh." (ĐGH
Gioan Phaolô II, CWNews 12/9/2001) Việc làm ḥa b́nh đó chắc chắn phải phát
xuất từ niềm tin vào t́nh yêu Thiên Chúa. T́nh yêu Thiên Chúa đă in dấu từ
bi vào bản tính nhân loại. Nhưng không hiểu tại sao "từ tận tầng thẳm sâu
của tâm hồn con người đôi khi nổi lên những mưu kế độc ác ngoài sức tưởng
tượng, có thể phá hủy trong chốc lát đời sống thường ngày của một dân tộc.
Nhưng khi chữ nghĩa không diễn tả nổi, th́ đức tin đến giúp chúng ta." (ĐGH
Gioan Phaolô II, CWNews 12/9/2001) Đức tin đem lại niềm hi vọng. Chỉ v́
không đặt niềm tin nơi Đức Giêsu, hiện thân ḷng Thiên Chúa xót thương, nên
"những tên khủng bố là những người tuyệt vọng; họ cảm thấy không có ǵ để
mất. Họ không nh́n thấy tương lai, bởi thế họ sẵn sàng giết người khác và
chính ḿnh." (TGM Renato Martino, CWNews 13/9/2001) Đúng là một thảm họa cho
nhân loại. Thảm họa đó chỉ có thể diệt trừ nếu "cả thế giới thành thật cam
kết t́m kiếm ḥa b́nh" và đừng chỉ "chú tâm tới quyền lợi riêng" (TGM Renato
Martino, CWNews 13/9/2001).
Chính v́ chỉ chú ư tới quyền lợi riêng, nên
ḷng người anh cả không bao giờ b́nh an. Nhưng b́nh an bao giờ cũng là mối
phúc chính yếu Chúa gởi đến nhân loại. Bằng chứng , ngay sau khi Trung Tâm
Mậu Dịch Thế Giới sụp đổ, hàng ngàn nhân viên cứu trợ t́nh nguyện đă túa đến
t́m kiếm những người c̣n sống sót trong đông gạch vụn. Khắp nơi dân chúng đă
rủ nhau đi hiến máu. Dân chúng New York "thi đua tỏ ḷng liên đới" (TGM
Renato Martino, CWNews 13/9/2001) với những nạn nhân khủng bố.
Khủng bố chỉ là một dấu chỉ sự xáo trộn cực
độ trong t́nh liên đới nhân loại. Con người không thèm nh́n nhau là anh em,
chỉ v́ không thấy được h́nh ảnh Thiên Chúa nơi anh em. Để có thể thấy được
h́nh ảnh Thiên Chúa, con người cần sám hối. Lư do v́ nhờ sám hối, con người
nh́n lại được h́nh ảnh Thiên Chúa trong đáy ḷng ḿnh. Nhờ đó, họ mới thấy
được t́nh liên đới với anh em.
Tóm lại, dù nhiều người đang ch́m ngập trong
thất vọng, nhưng Kitô hữu vẫn vững tin. V́ t́nh yêu Thiên Chúa c̣n đó ! Ḷng
sám hối c̣n đó ! Sám hối có thể phục hồi tất cả. Người con thứ đă dạy chúng
ta bài học lớn lao đó. Nhưng có sám hối được hay không, đó là nhờ ḷng tin
tưởng sâu xa vào Thiên Chúa. Càng tin tưởng sâu xa, càng cảm nghiệm ḷng
thương xót trời bể của Thiên Chúa. Thánh Phaolô cảm nghiệm sâu xa về ḷng
Chúa xót thương : "Tôi đă được Người thương xót. Sở dĩ tôi được thương xót,
là v́ Đức Giêsu Kitô muốn tỏ bày tất cả ḷng đại lượng của Người nơi tôi là
kẻ đầu tiên." ((1 Tm 1:13.16) Xưa kia, trước cơn đe loi của Thiên Chúa, "ông
Môsê cố làm cho nét mặt Đức Chúa, Thiên Chúa của ông, dịu lại. Đức Chúa đă
thương, không giáng phạt dân Người như Người đă đe." (Xh 32:11.14)
Fr Jude Siciliano, OP.
Bởi v́ ... đă mất, nay lại t́m thấy
Lc
15:1-32
Thưa quí vị.
Trong Hội thánh có những người được Chúa cho
trí nhớ rất tốt. Họ đọc thuộc ḷng nhiều đoạn Thánh Kinh quan trọng hoặc có
thể trích từng câu trong văn cảnh của nó. Ví dụ
Thư thứ I.Corintô đoạn x. câu y. Điều này rất lợi ích trong nhiều hoàn cảnh của cuộc đời. Họ có thể trích dẫn
Lời Chúa khi ngắm trăng sao, tinh tú; lúc đầy ḷng tạ ơn hay tranh luận tôn
giáo. Bất cứ thời điểm nào vui, giận, mừng, lo, họ cũng có thể dùng Lời Chúa
để hỗ trợ cho ḷng ḿnh. Thực t́nh, tôi ghen tị với những linh hồn ấy. Phần
ḿnh, trí nhớ tôi rất tồi. Cố gắng lắm th́ cũng chỉ đọc được vài ba câu thơ,
nhớ được tên vài cuốn sách. Vậy th́ những người giống như tôi, chúng ta phải
làm sao để cho được bằng người?
Tương kế, tựu kế; khoẻ dùng sức, yếu dùng mưu.
Xin mách quí vị một phương pháp nhỏ để vượt lên sự kém cỏi của ḿnh. Đó là
chúng ta phải làm cuộc đi tắt. Thí dụ bài Tin Mừng hôm nay. Nó dài tới hơn
30 câu, làm sao mà nhớ ? Vậy th́ chỉ tóm gọn vào 3 từ : “Bởi, Nhưng, Vậy”
(since, but, so). Mỗi từ có vài chữ tương đương. Nhưng thôi cứ tập trung vào
3 từ ấy cho dễ xử lư. Chúng ta lấy bài Tin Mừng hôm nay làm ví dụ : Từ “bởi
v́”: “Nhưng chúng ta phải ăn mừng, phải vui vẻ. Bởi v́ em con đây đă chết mà
nay lại sống, đă mất mà nay lại t́m thấy”. “Xin chung vui với tôi, bởi v́
tôi đă t́m được con chiên của tôi, con chiên bị mất đó”. “Xin chung vui với
tôi, bởi v́ tôi đă t́m lại đồng quan đă đánh mất”. Từ này nói lên hoàn cảnh
mà nhân loại đang ngụp lặn vào, hoặc những cay đắng khốn khổ mà chúng ta
nhận ra t́nh trạng của ḿnh. Chẳng riêng ǵ bài Phúc âm, bài đọc 1 trích
sách Xuất Hành cũng vậy. Thiên Chúa gởi Môsê từ trên núi xuống, bởi v́ dân
Israel đă trở nên tồi tệ: “Hăy đi xuống, v́ dân ngươi đă hư hỏng rồi, dân mà
ngươi đă mang lên từ đất Ai Cập, chúng đă vội đi ra ngoài con đường Ta
truyền cho chúng đi”. Thực tế, dân Do Thái đă trở nên “cứng cổ” và xem ra
Thiên Chúa đă từ bỏ họ, mặc cho họ đi theo đường lối lầm lạc của ḿnh. Ngài
nổi giận, v́ dân Do Thái bao phen đă làm Ngài cực ḷng.
Tuy nhiên xin đừng vội tự hào, thế giới ngày
nay c̣n tệ hại hơn nhiều. Các dấu chỉ thờ ḅ vàng nhan nhản khắp hang cùng
ngơ hẻm. Đâu đâu cũng thấy dân chúng lập thần tượng “để thờ”: tiền tài, danh
vọng, sắc dục, chức quyền, x́ ke, ma tuư, bạo lực, trác táng. Dân chúng thế
giới ngày nay “cứng cổ” hơn Israel thưở xưa. Bao nhiêu cố gắng hoà đàm, hoà
giải đều luống công. Các phương tiện truyền thông hằng ngày về bạo lực, giết
chóc, đàn áp dă man, chứng tỏ loài người chẳng thay đổi ǵ nhiều từ thời
Thiên Chúa gọi Israel là “cứng cổ”. Hai năm vừa qua, chiến tranh ở Iraq đă
giết chết 900 lính Mỹ, 15.000 thường dân Iraq, bất chấp lời phê phán nhiều
lần của Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II. Ngài gọi đó là cuộc chiến không cần
thiết và bất công (unjust and unnecessary war). Ngoài ra c̣n nhiều triệu vụ
phá thai, giết chết êm dịu, nghèo đói bẩn thỉu. Cho nên chúng ta có thể diễn
tả phần này bằng từ “bởi v́”. Bởi v́ những hoàn cảnh khốn đốn của nhân loại
do tội lỗi, tính hư nết xấu, gây nên. Chúng tồn tại ngoài ư muốn của Thượng
đế. Nó là sự “cứng cổ” của con cháu Adam, Eva. Bởi v́ t́nh trạng của loài
người là như vậy. Cho nên ḷng thương xót của Thiên Chúa phải chiếu cố để
cứu vớt họ. Họ chẳng tự thân thoát ra khỏi số phận nô lệ. Cho nên Đức Chúa
Trời phải hành động để họ được giải phóng.
Đến đây th́ chữ thứ hai “Nhưng” là cần thiết:
Nhưng Môsê đă đứng ra cầu khẩn cho dân (bài đọc 1). Nhưng tôi đă được Người
xót thương (bài đọc 2). Nhưng người cha nói với anh ta (phúc âm). Môsê đă
lên tiếng thay cho dân tộc tội lỗi. Ông xin Thiên Chúa nhớ lại họ vẫn là dân
riêng của Ngài, mặc dù cách đó ít lâu Ngài đă từ chối họ, gọi họ là dân của
Môsê chứ không là dân của Thiên Chúa nữa: “Hăy xuống mau v́ dân ngươi đă hư
hỏng rồi”. Môsê đă thưa lớn: “Nhưng lạy Đức Chúa, tại sao Ngài lại bừng bừng
nổi giận với dân Ngài, dân mà Ngài đă giơ cánh tay mạnh mẽ uy quyền đưa ra
khỏi đất Ai Cập?. Họ là dân của Ngài, ḍng dơi các tôi trung Abraham, Isaac,
Giacob. Tính chất trung gian của Môsê rất mạnh mẽ, dân Do Thái có thể cậy
dựa vào mà được lại ḷng Thiên Chúa xót thương. Ông đă xin Ngài nhớ lại
những mối dây giàng buộc (khế ước) mà Ngài đă nhiều lần kư kết với họ. Dân
này, dù tội lỗi, nhưng vẫn là đối tượng được hưởng lời Ngài đă hứa. Tuy tự
thân họ không đáng được ḷng Ngài xót thương. Nhưng v́ ḷng trung tín của
Ngài, Ngài không thể quên họ, vẫn ban ơn giải cứu khi họ lâm cảnh khốn cùng.
Bằng bất cứ giá nào, họ phải được Ngài ra tay uy quyền cứu giúp. Đó là lư
luận của chữ thứ hai.
Chữ thứ ba của các bài đọc hôm nay là: “V́
vậy”, v́ vậy Thiên Chúa hối hận không giáng phạt dân Ngài như đă đe doạ. “V́
vậy tôi bảo cho các ông hay, trên trời cũng sẽ vui mừng v́ một người tội lỗi
ăn năn sám hối”. Giọng văn sau “v́ vậy” mô tả đầy đủ t́nh cảm nhân loại được
gán cho Đức Chúa Trời. Đây là phần đẹp nhất của câu chuyện, gây nhiều xúc
động cho người đọc: Hẳn quí vị đă hiểu ra khía cạnh này, phải không? V́
chẳng ai có thể bỏ qua giây phút vui mừng của tâm hồn được tha thứ. Thiên
Chúa quả là người t́nh vĩ đại của loài người. Ngài chẳng thể bỏ mặc chúng ta
quằn quại trong kiếp sống ngục tù tội lỗi, mặc dầu nhiều khi chúng ta tỏ ra
“cứng đầu cứng cổ”, hư hỏng, mất nết. Điểm nhấn mạnh là ḷng thương xót của
Thiên Chúa và các dụ ngôn đều là câu chuyện của ơn thánh. Cánh cửa mở vào ơn
Chúa là chữ “nhưng”, tuy nhiên hậu quả tất yếu của nó nằm trong chữ “v́ thế”.
Nhân loại tội lỗi nhưng ḷng thương xót của Thiên chúa thật bao la trời bể.
Cho nên Ngài tha thứ, v́ thế cả thiên đàng đều vui mừng.
Chúng ta thử áp dụng quy luật của ḷng Thiên
Chúa thứ tha này vào bài đọc 2 hôm nay trích thư thứ 1 thánh Phaolô gửi cho
Timothê. Ở đây không phải là một dân tộc nhưng là một cá nhân. Chính bản
thân thánh Phaolô, ông cảm nghiệm sâu sắc chuyện này. Cuộc trở lại của ông
là một phép lạ do ḷng tha thứ, Thiên Chúa thực hiện nơi ông. Chính thánh
nhân kể lại, không qua trung gian người thứ hai. Trước kia ông là người tội
lỗi, nói lộng ngôn, bắt đạo. Chúng ta có thể dùng từ “bởi v́” cho giai đoạn
này: Bởi v́ tôi là kẻ tội lỗi, đă bách hại đạo Chúa, bắt bớ và giết chết các
tín hữu. Ông chẳng thể được Thiên Chúa thi ân do công trạng riêng của ḿnh.
Thánh nhân nhanh chóng đổi giọng văn: “Nhưng tôi đă được Người thương xót v́
tôi hành động một cách vô ư thức, trong lúc chưa có ḷng tin”. Đây là thời
điểm của ơn tha thứ, ơn trở lại của Phaolô. V́ thế, Thiên Chúa đă bước vào
đời ông, ban cho ông sự tha thứ cần thiết để ông làm môn đệ Ngài. Tiếng “v́
thế” diễn tả hậu quả của ḷng Chúa thương xót. Lúc này ông hoàn toàn đổi
khác, mặc ấy Chúa Kitô và trở nên con người mới. Một sự đổi đời gây ngạc
nhiên tột độ không ai tưởng tượng nổi. Thánh Luca thuật: Ông phải nhờ
Barnaba làm trung gian để gặp các Tông đồ ở Giêrusalem v́ không ai có thể
tin được sự trở lại đó (Cv 9,26). Người trước kia là kẻ bắt bớ các tín hữu,
nay trở nên dấu chỉ của ḷng Chúa xót thương! Chính thánh nhân viết: “Đây là
lời đáng tin cậy và đáng mọi người đón nhận: Đức Kitô Giêsu đă đến thế gian,
để cứu nhưng người tội lỗi, mà kẻ đầu tiên là tôi”. Chúng ta biết rơ sứ vụ
rao giảng của Phaolô sau khi trở lại rất thành công. Thánh nhân có thể kiêu
hănh về kết quả đó, như bao nhà truyền giáo thời nay. Họ làm thống kê dài
ngoằng và tạ ơn Thiên Chúa. Nhưng không, trong bài đọc hôm nay, thánh nhân
thú nhận kết quả đó hoàn toàn do Thiên Chúa hoạt động qua ông: “Đức Giêsu
muốn bày tỏ tất cả ḷng đại lượng của Người nơi tôi là kẻ đầu tiên, mà đặt
tôi làm gương cho những ai tin vào Người để được sống muôn đời”. Thánh nhân
kết thúc bằng một lời ngợi khen Thiên Chúa. Thánh lễ hôm nay chúng ta có thể
dùng lời đó cho chính thân phận ḿnh. Không phải là ngẫu nhiên mà Chúa ban
Bí tích Rửa tội cho mỗi người. Chính là do ḷng thương xót của Ngài, cũng
giống như trường hơp của Phaolô. Cho nên mỗi người phải hết ḷng dâng lên
Ngài lời biết ơn tán tạ: “Kính dâng lên vua muôn thưở là Thiên Chúa bất diệt,
vô h́nh và duy nhất, kính dâng người danh dự và vinh quang đến muôn thưở
muôn đời. Amen”.
Đến đây chúng ta có thể chuyển sang bài Tin
mừng. Câu mở đầu khai mào cho ba dụ ngôn tiếp theo. Mấy ông kí lục và
Pharisêô chỉ trích Chúa Giêsu về thái độ thân hữu của Ngài: “Ông này đón
tiếp các kẻ tội lỗi và ăn uống đồng bàn với chúng”. Chúa Giêsu trả lời bằng
ba dụ ngôn. Cả ba đều mang ư nghĩa chung: Mất mát và t́m thấy. Nhiều tác giả
đặt cho phần này của phúc âm Luca tiêu đề: “Dụ ngôn về ḷng xót thương của
Thiên Chúa”. Mỗi dụ ngôn đều khởi đầu bằng sự kiện mất mát: Con chiên lạc,
đồng bạc mất và đứa con đi hoang. Phân đoạn này hiểu ngầm từ “Bởi v́”. Bởi
v́ nhân loại đă đi hoang, đă lạc mất, đă trầm luân mà không tự ḿnh trở lại
với đường ngay lối phải, cho nên Thiên Chúa đă ra tay cứu vớt. Cả ba dụ ngôn
đều không nhấn mạnh về khía cạnh luân lư cho bằng sự “mất t́m” và giá trị
mất mát đều đáng giá đối với chủ nhân. Đây là điểm cần quan tâm trong ba dụ
ngôn. Loài người chẳng là ǵ trước mặt Thượng đế, Đấng thượng trí và giàu
sang vô cùng. Nhưng chỉ v́ ḷng thương xót của Ngài mà chúng ta trở nên đáng
giá, được Ngài t́m kiếm và nóng ḷng chờ đợi chúng ta trở về. Tư tưởng này
khiến nhiều linh hồn lành thánh phải rơi nước mắt cảm động. Chai đá lắm th́
cũng phải mềm ḷng. C̣n chúng ta? Mỗi người tự trả lời câu hỏi!
Chủ ư của Chúa Giêsu khi kể các dụ ngôn có lẽ
không nhắm vào nội dung mất mát cho bằng năo trạng hẹp ḥi của các kí lục,
biệt phái, kinh sư và chúng ta hôm nay. Họ nghĩ rằng ḿnh đáng được tha thứ
v́ những “công nghiệp” ḿnh làm và không thể tưởng tượng ḷng thương xót của
Đức Chúa Trời có thể vượt qua ranh giới họ cho phép, tức phải loại trừ những
phạm trù bất khả. Ôi loài người ḷng chai dạ đá, cứng cổ hơn dân Israel thời
Môsê. Họ nên được h́nh ảnh người con cả đại diện. Nhưng sự thật Thiên Chúa
đă thấu hiểu t́nh trạng vô vọng của đứa con thứ. Ngài bước vào, lật ngược
tâm hồn anh ta và giơ tay cứu vớt. Kết quả của tiến tŕnh này là một tương
lai tươi sáng, đầy hứa hẹn, mở ra cho anh: “Mau mau giết bê béo để ăn mừng,
v́ con ta đây đă chết, nay lại sống, đă mất, nay lại t́m thấy”- hiện thực
của từ v́ thế (so ).
Áp dụng vào đời sống thiêng liêng của mỗi
linh hồn, ba từ này diễn tả một tiến tŕnh hết sức thực tiễn và cảm động.
Bất cứ ai sống ở thế gian này đều có những giây phút bế tắc v́ tội lỗi, tính
mê, nết xấu. Tự thân t́m kiếm, chẳng thể nào thấy được lối ra. Càng cố gắng
càng lún sâu vào bùn đen nước độc. Đó là những giây phút “bởi v́” của các
bài đọc hôm nay. Bởi v́ chúng ta không có khả năng tự giải thoát, xiềng xích
của hoả ngục quá nặng nề. Chúng ta phải kêu lên như thánh Phaolô: “Khốn nạn
thân tôi, ai sẽ cứu tôi khỏi gánh nặng nề này?. Điều chi sẽ xảy ra để thay
đổi t́nh trạng hiện thời? Đến đây là giây phút của “Nhưng”. Nhưng ḷng
thương xót của Thiên Chúa can thiệp vào và đổi ngược mọi sự: Từ tuyệt vọng
đến hy vọng, từ tối tăm đến anh sáng, từ ngục tù đến tự do, từ đường cùng
đến lối thoát. V́ vậy, cuộc sống mới bắt đầu, đầy tương lai và hạnh phúc.
Hẳn chúng ta hiểu ra tại sao trong giai đoạn này thánh Phaolô lại dùng cụm
từ “mặc lấy Đức Kitô”, để mô ta đời sống mới của người tín hữu. Đời sống
vĩnh cửu, hoàn toàn tươi sáng, tự do. Tạ ơn Chúa.
Cho nên, hôm nay trước bàn thờ Thánh Thể,
Chúa cho chúng ta cơ hội tốt để nhớ lại quá khứ của ḿnh: Đă mất nay lại t́m
thấy, đă chết nay lại sống. Giống như những nhân vật trong các dụ ngôn,
chúng ta cử hành niềm vui mừng t́m thấy linh hồn ḿnh, bị trầm luân nhưng
được Chúa cứu sống, bị kết án nhưng được Chúa phóng thích. Tuy nhiên, việc
này hoàn toàn không do năng lực riêng mỗi người. Đấng là Ḷng Thương Xót đă
t́m kiếm và cứu chữa chúng ta. Ơn này chẳng bao giờ ngợi khen cho đủ. Xin
hăy cúi đầu phủ phục trước tôn nhan và quyết tâm phụng sự Ngài hiện diện
trong tha nhân. Amen.
Fr Jude Siciliano op
Ngài đồng
bàn với những kẻ tội lỗi…
Lc
15:1-32
Thưa quư vị. Lần đọc thứ nhất bài Tin Mừng hôm nay đă khiến tôi lưỡng lự. Nó
quá dài và nhiều dụ ngôn. Một dụ ngôn mà thôi cũng đủ cho một bài huấn giáo
thiêng liêng. Ở đây lại có tới ba dụ ngôn : Con chiên thất lạc, người đàn bà
mất đồng tiền và người con phung phí. Nếu diễn giải trọn cả ba, tôi e quá
tải, thính giả dễ bị tra tấn và phân tán trí khôn. Cho nên tôi chọn phần
ngắn hơn gồm hai dụ ngôn.
Trước nhất, tôi để ư đến bối cảnh của các dụ ngôn. Ngay câu mở đầu, người
biệt phái và luật sĩ đă phàn nàn về tư cách của Chúa Giêsu, họ nói : “Ông
này tiếp đón và ăn uống với những người tội lỗi. Nếu như họ thực sự thấu
hiểu về Thiên Chúa của tổ tiên người Do Thái, họ không nên có lời b́nh phẩm
như thế, ngược lại họ phải vui mừng, bởi lẽ Thiên Chúa của tổ tiên họ luôn
luôn thương xót, luôn luôn giơ tay dẫn dắt những kẻ lầm đường lạc lối. Tổ
tiên họ đă từng đi lạc đường, thờ phượng ngẫu tượng, nhưng cũng ngần ấy lần
Chúa đă sai các ngôn sứ của Ngài dẫn dắt tổ tiên họ trở lại đường ngay nẻo
chính. Họ phải vui mừng nhận ra gương mặt nhân từ của Thiên Chúa nơi Đức
Giêsu. Ngài không những đón tiếp mà lại thực sự ngồi đồng bàn với các người
tội lỗi, làm chủ bàn tiệc, thiết đăi họ một bữa ăn thịnh soạn !
Đối với kinh sư, luật sĩ nếu gặp những trường hợp bất đắc dĩ phải đối diện
với những người “nhơ bẩn”, họ sẽ cố gắng tránh xa hoặc thu xếp một cuộc đối
đầu thật nhanh chóng : Họ nghĩ bụng, trời, tôi đâu có biết ! Nếu biết như
thế này th́ tôi chẳng đến, bấy giờ tôi chỉ c̣n có nước tính bài “biến” cho
nhanh. Chúa Giêsu không nghĩ như thế, Ngài không xa lánh kẻ tội lỗi, trái
lại Ngài vui mừng v́ họ có mặt tại bữa ăn. Bởi đó là mục tiêu Ngài đă đến
trong thế gian này : “Ta không đến để kêu gọi người công chính, nhưng là kẻ
có tội” (5, 32). Trước mặt các thế lực tôn giáo, Chúa Giêsu đă có đầy đủ
chứng cớ để bị tố cáo. Ngài là một kẻ tham ăn, say sưa, bạn bè với quân thu
thuế và tội lỗi (7 , 34). Ngoài ra, Ngài thường xuyên vi phạm luật lệ ngày
Sabbat. Ngày thánh đối với người Do Thái.
Chúa Giêsu đă trả lời họ bằng ba dụ ngôn, nói lên nỗi vui mừng của Thiên
Chúa khi một người tội lỗi ăn năn hối cải. Giọng điệu của Ngài có lẽ hơi
châm biếm. Chín mươi chín người “biệt phái” công chính không làm cho Thiên
đàng vui mừng bằng một người trở lại. Chín ông “kinh sư” ngoan đạo không
bằng một kẻ thất lạc được t́m thấy. Mà chính thật như thế. Đức hồng y Fulton
Sheen đă có ư kiến như sau : “Ngài chọn treo trên Thánh giá cho đến khi con
chiên lạc cuối cùng được t́m thấy và đưa về đàn”. “He chooses to be hanged
there until the last lost sheep is found and brought back into the fold”
(Bài giảng tuần thánh). Nghĩa là Ngài vui ḷng chịu đóng đinh cho đến tận
thế, để chờ đợi các tội nhân ăn năn trở lại ! Ôi ḷng thương xót vô bờ của
Thiên Chúa được thể hiện qua Đức Giêsu !
Dụ
ngôn thứ nhất về con chiên thất lạc. H́nh ảnh người chăn chiên rất quen
thuộc trong quần chúng Do Thái, nhưng chẳng mấy tốt đẹp. Bởi đời sống thiếu
thốn nên họ có nhiều thói xấu, nhất là thói trộm cắp. Việc họ đi lang thang
đó đây gây nên nhiều nghi ngờ và người ta thường canh chừng họ khi họ tới
gần gia sản của ḿnh. Khi Chúa Giêsu dùng dụ ngôn kẻ chăn chiên, những người
biệt phái và luật sĩ tự dưng khó chịu. “Tôi hả” chẳng bao giờ tôi lại là kẻ
chăn chiên bẩn thỉu, chẳng bao giờ tôi lại thèm làm một nghề hèn hạ. Như vậy
rơ ràng họ không thể tưởng tượng nổi ḿnh là một tội nhân; hoặc đồng hoá
được với một tội nhân, làm thế nào họ có đủ ư thức mà ăn năn trở lại. Tâm lư
của chúng ta cũng vậy thôi. Chẳng bao giờ chúng ta dám thành thật nhận ḿnh
thuộc hàng tội lỗi, cho nên chẳng bao giờ chúng ta thực t́nh ăn năn sám hối
! V́ vậy Chúa Thường khiển trách chúng ta là những kẻ giả h́nh.
Dụ
ngôn thứ hai. Người đàn bà t́m lại được đồng tiền đă mất. Dụ ngôn này là
riêng của Thánh Luca. Dụ ngôn trên chung với Thánh Marcô và Matthêu. Đàn bà
cũng lại là hạng người bị khinh rẻ trong xă hội Do Thái thời Chúa Giêsu. Mặc
dù dụ ngôn nói tới một người đàn bà “kia”, nhưng chủ ư th́ Chúa Giêsu kêu
mời thỉnh giả của Ngài tự đồng hóa với người đàn bà kiếm t́m đồng bạc. Như
vậy, trái tim Chúa luôn luôn nghĩ tới những hạng người thấp hèn trong xă hội.
Ngài dùng lối sống của họ để dựng nên những mẩu chuyện chuyển tải lời rao
giảng của Ngài. Ngài sống trà trộn với họ, quan sát mặt phải, mặt trái của
xă hội mà đem ra ánh sáng những sự thật cứu rỗi.
Cả
hai thứ người trên đây, một đàn ông, một đàn bà, đă thành công trong việc
t́m kiếm của họ, không ai bỏ cuộc và họ đă được toại nguyện. Họ đă vui mừng
vác chiên lên vai hoặc kêu mời hàng xóm đến chung vui với đồng tiên t́m lại
được. và như Chúa Giêsu nói, điều đó tượng trưng cho việc t́m kiếm thần linh.
Đối tượng của sự vui mừng này là việc t́m lại được những ǵ đă mất, tức
ngừơi tội lỗi đă ăn năn trở lại. Dĩ nhiên, những người kiên tŕ trong đàng
lành đàng thánh vẫn được Thiên Chúa khen ngợi, nhưng sự bùng nổ của niềm vui
là do t́m lại được điều đă thất lạc. Dụ ngôn thứ ba, người con hoang đàng
nói rơ hơn về điểm này. Nhưng chúng ta dành lại cho một dịp khác, kẻo quá
dài.
Điều cần phải nói ngay ở đây là ngoại trừ Chúa Cứu thế và Mẹ Ngài, c̣n th́
tất cả nhân loại đều đă mắc tội, và v́ vậy đều là tội nhân, và vẫn c̣n khả
năng phạm muôn và tội lỗi khác, nếu như ơn Chúa không bao bọc, giữ ǵn. Vậy
th́ chúng ta không nên xếp hạng ai cả, đừng lầm tưởng ḿnh đă được miễn trừ
mà biểu lộ ḷng kinh bỉ kẻ khác. Chúng ta đừng tự nhận là người công chính,
thánh thiện, người tốt, kẻ trung thành trong khi các yếu đuối, đam mê không
cho phép chúng ta làm như vậy. Đó là sự thật vĩnh cửu. Chúa tha thứ các h́nh
phạt, nhưng hành động tội đă phạm vẫn c̣n đấy trước tôn nhan Ngài. Cho nên,
một đàng chúng ta hết ḷng, hết sức, hết linh hồn biết ơn Chúa, đàng khác sợ
hăi và tránh xa các dịp tội, những cơn cám dỗ đưa đến tội lỗi. Một nghĩa nào
đó, chúng ta là con chiên thất lạc hoặc đồng tiền bị mất đă được ḷng thương
xót Chúa t́m thấy.
Thiên Chúa muốn cứu vớt mọi người, không những chung chung toàn thể nhân
loại, mà từng cá nhân, sang cũng như hèn, giàu có cũng như nghèo khổ. Không
phải chỉ một phần hơn, kém số người được cứu rỗi mà toàn thể những ai đă
từng có mặt ở thế gian này. Thánh Phaolô trong bài đọc thứ hai trích thơ
ngài gửi cho Timôtheô đă viết : “Đây là lời trung thực, đáng mọi người tin
nhận đó là Đức Kitô Giêsu đă đến thế gian để cứu những người tội lỗi, mà
người thứ nhất là Cha”. (1 Tm 1, 15). Ḷng thương xót của Chúa là căn nguyên
việc Ngài trở lại. Nó đă dẫn ngài đến đức tin đầy đủ nơi Đức Kitô. Vậy th́
không có lư do ǵ để chúng ta rơi vào thất vọng. Theo như văn hóa thời Chúa
Giêsu, ngồi ăn với người khác, bẻ bánh với họ là dấu chỉ ḷng hoà giải, t́nh
tha thứ. Cả ba dụ ngôn hôm nay đều có yếu tố bữa ăn, bẻ bánh và niềm vui.
Các nhân vật trong các câu chuyện đều mở tiệc ăn mừng.
Chi tiết này bắt buộc chúng ta phải liên tưởng đến bữa tiệc Thánh Thể Chúa
Nhật hôm nay. Chúa Giêsu cũng mở tiệc ăn mừng Chúng ta là những con chiên
thất lạc, mà Ngài đă t́m thấy. Ngài t́m kiếm trong suốt cả cuộc đời chúng ta,
khi chúng ta đi lạc, dấn thân vào tội lỗi, thói hư nết xấu, Ngài dùng Lời
Ngài trong cộng đồng, hoặc một cá nhân nào đó kêu gọi chúng ta, và chúng ta
lại được chấp nhận vào bàn tiệc. Bàn tiệc này là máu, thịt Ngài và mọi người
đều được thỏa thuê. Ngài là chủ tiệc, mọi người đồng bàn, không ai hơn,
không ai kém, không ai có phần nhiều hơn và cũng không ai chịu phần thua
thiệt, cho nên chúng ta đừng khinh thường một người nào trong bàn tiệc này.
Đây là thói xấu cố cựu trong các cộng đồng giáo xứ, người ta chia rẽ, kéo
phe, tẩy chay lẫn nhau ngay trong bàn tiệc Thánh Thể. Chúng ta phải thay đổi
năo trạng. Sau một tuần lao động cực nhọc với bao nhiêu lỗi lầm, đi lạc,
chúng ta lại được t́m về, ăn năn hối cải như những người con hoang đàng được
chính Thiên Chúa đón nhận. Ngài không kịp để chúng ta thổ lộ tâm can, nói
với Ngài những câu đă tập dượt, mà vào ngay bàn tiệc với áo đẹp, giầy mới,
và nhẫn vàng đeo tay. C̣n chi yêu thương và hoan hỉ hơn ? Amen.
G. Nguyễn Cao Luật op
HĂY CHIA VUI VỚI TÔI
Lc
15:1-32
Có
lẽ có người cho rằng các dụ ngôn được kể lại trong bài Tin Mừng hôm nay hơi
có tính cách cường điệu. Có mục tử nào dám bỏ lại chín mươi chín con chiên
trên cánh đổng rổi đi t́m con chiên bị lạc mất ? Có ai lại bỏ công t́m cho
kỳ được đổng bạc trong khi ḿnh c̣n chín đổng nữa ? Hay có người cha nào sẵn
sàng đợi chờ, tha thứ cho đứa con đă đ̣i chia gia tài và bỏ nhà ra đi ?
Quả vậy, theo quan điểm của con người, ít có khi nào xảy ra những điều như
thế. Nhưng đối với Thiên Chúa, chẳng có ǵ là cường điệu. Những câu chuyện
này cho thấy thế nào là t́nh yêu, là ḷng thương xót của Thiên Chúa.
T́nh thương không giới hạn
Con người được Thiên Chúa tạo dựng do ḷng yêu thương. Thế nhưng, con người
đă từ khước t́nh yêu ấy qua việc ăn trái cấm. Và Thiên Chúa đă không bỏ mặc
con người dưới quyền thống trị của tội lỗi, của sự chết. Nếu Thiên Chúa có
trừng phạt con người th́ cũng là việc xứng đáng. Nhưng Thiên Chúa không xử
sự như thế. Một t́nh yêu đích thực không thể bằng ḷng với việc trợ giúp
cách chung chung, để rổi khi bị từ khước th́ bỏ rơi không c̣n đoái hoài ǵ
tới. Nếu Thiên Chúa hành động như thế th́ khó có người được cứu, và Đức
Giê-su đă không được sai đến trần gian.
Đàng khác, Thiên Chúa cũng chẳng tính toán những hổng ân Người đă ban. Thiên
Chúa không đưa cho con người một bản tỗng kết những ǵ Người đă ban cho họ :
ân sủng của Người tuôn chảy không ngừng, t́nh yêu thương chẳng bao giờ vơi
cạn. Nếu có kể ra những hổng ân, điều đó chỉ có mục đích nhắc nhở con người
hăy sống xứng đáng với hổng ân đă lănh nhận để rổi tiếp tục nhận được những
ân huệ khác.
Cả
khi con người đi lang thang phiêu lăng, Thiên Chúa vẫn đuỗi theo. Không có
chỗ nào con người ở một ḿnh cả. Chẳng bao giờ con người có thể tự nhủ Thiên
Chúa bỏ rơi ḿnh rổi. Một người thợ săn kiên nhẫn, ŕnh chờ con mổi, một
người câu cá âm thầm chờ đợi. Thiên Chúa như thế đó.
Thật vậy, chính ḷng yêu thương đă thúc đẩy Thiên Chúa t́m kiếm con người.
Thiên Chúa đă tạo dựng con người, không phải như một đổ vật, nhưng là để họ
tham dự vào sự sống của Người, để sống trong t́nh yêu thương. Nếu Thiên Chúa
chỉ coi con người là một đổ vật, th́ khi bị lạc mất, Người có thể tiếc nuối,
những rổi thôi, Người có thể lại có cái khác, hay hơn, tốt đẹp hơn, và nhiều
hơn nữa. Ở đây, các dụ ngôn cho thấy tính cách lớn rộng của t́nh yêu : quan
tâm đến tất cả, nhưng không bỏ rơi bất cứ ai, dù người đó có thế nào chăng
nữa. V́ t́nh yêu, Thiên Chúa không bao giờ cảm thấy mệt mỏi, chán nản, chỉ
cần là Người t́m lại được người tội lỗi, chỉ cần là họ cảm nhận được t́nh
thương của Thiên Chúa.
V́
thế, trong t́nh thương của Thiên Chúa, không có ai là người bị bỏ quên. Mỗi
người đều được Thiên Chúa quan tâm săn sóc, mỗi người đều ở trong trái tim
của Thiên Chúa, không có ai bị đẩy ra ngoài, không có ai nhận được ít t́nh
thương ...
Hăy chia vui với tôi
Trong cả ba dụ ngôn, Đức Giê-su đều kết thúc bằng những lời nói đến niềm vui.
Người chăn chiên t́m được chiên lạc th́ vác chiên lên vai, và mời bạn hữu
láng giềng đến chia vui; người đàn bà t́m thấy đổng bạc đă mất cũng vậy; và
người cha có đưa con đi hoang trở về th́ mở tiệc lớn ăn mừng.
Lư
do của việc ăn mừng này đă rơ ràng. Nhưng sau đó, Đức Giê-su muốn cho thấy
niềm vui của Thiên Chúa khi người tội lỗi hối cải. Ở dụ ngôn thứ nhất, "trên
trời sẽ vui mừng v́ một người tội lỗi hối cải" ; ở dụ ngôn thứ hai, "các
thiên thần của Thiên Chúa sẽ vui mừng v́ một người tội lỗi hối cải" ; và ở
dụ ngôn thứ ba, "phải ăn mừng, v́ em con đây đă chết, mà nay lại sống; đă
thất lạc, mà nay lại t́m thấy".
Tội nhân hối cải, không những được tha thứ, nhưng c̣n được chờ đợi, được đón
tiếp. Niềm vui của Thiên Chúa thật lớn lao khi người tội lỗi biết từ bỏ con
đường xấu xa, để trở về sống trong t́nh thương của Thiên Chúa.
Có
thể nói, Thiên Chúa không có niềm vui nào khác ngoài việc con người sống
thân mật với Người. Dù cho có thế nào chăng nữa, Người vẫn chờ đợi họ, vẫn
mở rộng ṿng tay đón tiếp. Đây thực là một lời an ủi và nhắc nhở cho con
người. Là một lời an ủi, v́ con người biết rằng Thiên Chúa vẫn yêu thương họ
và mong họ trở về với Người. Thiên Chúa vẫn đi t́m họ, dù họ cố t́nh tránh
né. Thiên Chúa vẫn thi ân giáng phúc, dù họ từ khước không nhận. Là một lời
nhắc nhở, v́ nếu như tội lỗi đă làm Thiên Chúa phiền ḷng, th́ Người sẽ c̣n
phiền ḷng hơn biết mấy khi con người từ chối t́nh thương Người dành cho họ,
mong họ trở về sống trong t́nh thương.
Hơn nữa, ở đây c̣n có lời mời gọi chia sẻ niềm vui với Thiên Chúa v́ người
tội lỗi đă trở về. Kẻ từ chối chia vui với Thiên Chúa cũng chính là kẻ phải
trở về, phải sám hối. Kẻ từ chối chia vui với Thiên Chúa cũng chính là người
không nhận ra t́nh thương đích thực, và như thế là họ đă từ khước t́nh
thương của Thiên Chúa.
*
* *
Ở
giai đoạn đầu của lịch sử cứu độ, sau khi con người phạm tội, Thiên Chúa đă
lên tiếng hỏi, đang khi họ chạy trốn : "Ngươi đang ở đâu ?" Ngày nay, Thiên
Chúa đă mở tiệc để thết đăi họ. Nhờ sự tuân phục của Đức Giê-su Ki-tô, nhân
loại đă được cứu thoát, đă được chữa lành khỏi mọi thương tích, đă được tha
thứ.
Đó
là niềm vui của Thiên Chúa, hăy chia vui với Người.
*
* *
Phải tin vào Thiên Chúa
v́
Người đă tin tưởng chúng ta.
Người đă làm cho chúng ta tin vào Người,
khi trao cho chúng ta Người Con duy nhất.
Phải tin vào Thiên Chúa
v́
Người đă tín nhiệm chúng ta
đă
làm cho chúng ta tin vào Người.
Chẳng lẽ sự tín nhiệm của Thiên Chúa
dành cho chúng ta
lại không được đặt đúng chỗ ?
Thiên Chúa đă làm bừng lên nơi chúng ta niềm hy vọng
Người đă khởi đầu.
Người mong rằng kẻ tội lỗi
sẽ
làm một chút ǵ đó
cho ơn cứu độ của ḿnh.
Một chút ! chỉ cần một chút thôi !
phỏng theo Charles Péguy
Giacôbê Phạm Văn Phượng op
Quyết tâm trở về
(Lc 15,1-10)
Một hôm, Sa-tan ra lệnh cho một người kia phải thi hành một trong ba điều nó
yêu cầu, nếu không nó sẽ đoạt linh hồn người đó. Ba điều đó : một là giết
cha, hai là hành hạ người em, ba là uống rượu. Người đó ngẫm nghĩ : giết
cha, đánh đập em là điều trái với đạo lư, anh không thể nào làm được, c̣n
uống rượu th́ dễ quá ai mà làm không được. Sau khi cân nhắc mọi hơn thiệt,
anh đi mua rượu về uống. Lúc đầu anh c̣n tự chủ được, nhưng về sau, không
c̣n làm chủ được ḿnh nữa, anh đă say túy lúy, và kết quả đă diễn ra đúng
như Sa-tan mong đợi, anh đă giết cha và hành hạ người em.
Câu chuyện trên có lẽ không chỉ là chuyện ngụ ngôn mà là thực tế xảy ra từng
ngày trước mắt chúng ta. Tội ác nằm trong máu của con người, rơi vào một
hoàn cảnh nào đó, ai cũng có thể là một tên sát nhân. Thế nhưng câu chuyện
trên không phải chỉ nêu lên mặt trái của con người, nó c̣n nói lên nét cao
quư trong ḷng con người nữa. Người thanh niên trong câu chuyện, chúng ta
thấy anh đă không lao vào tội ác như một phản ứng b́nh thường, đạo lư và lẽ
phải đă đến với anh trước tiên. Điều đó cho chúng ta thấy : từ thâm cung của
ḷng ḿnh, con người luôn hướng về điều thiện. Con thú cắn xé rồi lăn ra ngủ
yên, nhưng con người th́ không như thế, có kẻ sát nhân nào mà không cảm thấy
bị cắn rứt trong lương tâm, có hành động xấu nào mà không dày ṿ ḷng dạ con
người. Con người sinh ra vốn hướng về điều thiện : “Nhân chi sơ, tính bản
thiện”. Không có một tâm hồn nào hư đốn hoàn toàn, không có một con người
nào xấu xa tuyệt đối, đâu đó trong tâm hồn mỗi người luôn vang vọng lời mời
gọi của thiện hảo.
V́
thế, con người dù lầm lỗi thế nào chưa quan trọng, điều quan trọng hơn là có
biết cải thiện sửa đổi hay không, và trong việc cải thiện đời sống hay ăn
năn trở lại, có ít là ba giai đoạn : Thứ nhất là nhận biết hay nh́n nhận
t́nh trạng sai lỗi của ḿnh. Không nh́n nhận ḿnh là tội nhân th́ làm sao có
thể nghĩ đến việc trở lại. Thứ hai là quyết định trở lại, quyết tâm sửa đổi
như người con hoang đàng : “Thôi, tôi sẽ lên đường trở về cùng cha tôi”.
Chúng ta dễ dùng dằng, lần lữa từ tháng này qua tháng khác, năm này qua năm
khác là chuyện quá thường, là cơn cám dỗ quen thuộc của ma quỷ để ngăn cản
việc cải thiện đời sống. Thứ ba là thi hành điều quyết định trở về như người
con hoang đàng : “Anh đă chỗi dậy mà về nhà cha anh”. Đó là bước quyết liệt
đ̣i nhiều can đảm và hy sinh để dứt bỏ mọi quyến rũ của đối phương. Người Âu
châu thường nói : “Bước khó khăn nhất là bước qua ngưỡng cửa”, tức là bước
quyết định. V́ khó, nên cần ơn trợ giúp của Chúa. Thay đổi tóc trên đầu đen
thành trắng hay trắng thành đen c̣n làm được huống nữa là thay đổi tâm hồn
từ tội lỗi trở nên thánh thiện, chỉ cần tỏ thiện chí tối thiểu là lập tức có
đủ ơn trợ giúp để cải thiện đời sống.
Mỗi người khi dấn thân đổi mới cuộc đời, từ bỏ tật xấu, tập nhân đức và lớn
lên trong các nhân đức đ̣i hỏi ba yếu tố : Thứ nhất là sự kiên quyết, thứ
hai là ơn trợ giúp của Thiên Chúa, thứ ba là sự giúp đỡ của những người
chung quanh.
Không ai có thể tự ḿnh chừa bỏ tật xấu, tự ḿnh luyện tập nhân đức, sự
quyết tâm là điều cần thiết, nhưng cũng c̣n cần đến sự trợ giúp của ơn Chúa
và sự giúp đỡ của những người chung quanh.
Ơn
Chúa chắc chắn luôn luôn được ban cho mỗi người, v́ Thiên Chúa nhân từ, hằng
muốn mọi người ăn năn trở về với Ngài : “Ta không kết án con”. Ngài là Đấng
vui mừng mạc khải cho chúng ta biết : toàn thể thiên đàng hân hoan v́ một
người tội lỗi ăn năn trở lại hơn 99 người công chính không cần trở lại. C̣n
lại hai yếu tố : sự nhất quyết của cá nhân và sự giúp đỡ của những người
chung quanh. Mỗi người có quyết tâm cải thiện đời sống hay không, và có được
những người chung quanh thông cảm, nâng đỡ để giúp nhau sửa đổi đời sống hay
không ? Rồi đến lượt chúng ta, mỗi người có trở thành một người giúp đỡ kẻ
khác, để khuyến khích họ trở về với Chúa không ? Hay chúng ta lại nghiêm
khắc xét đoán, lên án, khinh thường và loại bỏ người anh em đang thành tâm
chiến đấu với tật xấu của họ để đổi mới cuộc đời. Cùng chia sẻ thân phận tội
lỗi, chúng ta dễ dàng thông cảm, tha thứ và giúp đỡ nhau để cùng nhau đổi
mới đời sống.
Xin Chúa thương gọi chúng ta trở về với Ngài, đổi mới cuộc đời cho tốt đẹp
hơn, và giúp chúng ta trở thành một người bạn thay v́ là một quan ṭa, một
người bạn đầy thông cảm, nâng đỡ anh chị em chung quanh, để chúng ta biết
giúp đỡ nhau và nương tựa nhau sửa đổi đời sống mỗi ngày tốt đẹp hơn.
Vincente Nguyễn Trọng Đại op
Trên Trời Sẽ Vui Mừng Khi Một Người Tội Lỗi Hối Cải
(Lc.15,1-32 )
Trong xă hội Do Thái lúc bấy giờ, người thu thuế bị xếp vào hạng tội lỗi, là
những người thường bị lên án. Người thu thuế đuợc coi là những người làm ăn
sinh sống bằng nghề khá mập mờ. Họ không quan tâm đến luật lệ của Thiên Chúa;
Họ chẳng biết giá trị của tinh thần. C̣n người tội lỗi, họ lăng quên Thiên
Chúa, tránh né để khỏi phải bận tâm, g̣ bó.
Trái lại người biệt phái, kinh sư là những nhà chuyên môn, thông thạo lề
luật, nói những lời đáng tin về Thiên Chúa. Nhưng họ lại chẳng theo Chúa,
không đến để nghe Chúa giảng mà c̣n xầm x́ nhỏ to: “Ông này đón tiếp những
người tội lỗi và ăn uống với chúng…”. Và họ c̣n t́m cách hăm hại Chúa và làm
cho Chúa mất tín nhiệm.
Thế nhưng qua bài Tin Mừng thánh Lu-ca tường thuật lại những người thu thuế
và người tội lỗi lại theo Chúa thật đông, họ vây quanh Chúa để nghe Chúa
Giảng. Những người pharisêu và các kinh sư thấy Chúa Giê-su bỏ công đến với
những người thu thuế và tội lỗi th́ họ cho là mất công vô ích, nên họ phản
đối. Đối với họ, việc làm của Chúa Giê-su là không đáng, bởi v́ những kẻ tội
lỗi là hạng đáng vất đi, không đáng quan tâm. Nhưng đối với Chúa những người
tội lỗi lại rất quan trọng. Một đồng xu quư giá thế nào đối với người đàn bà
nghèo khổ, một người con quư giá thế nào đối với tấm ḷng người cha, th́ một
người tội lỗi cũng đáng giá thế ấy đối với tấm ḷng của Chúa.
Chúng
ta ai mà lại không vui khi cái ǵ đă mất được t́m thấy, c̣n ǵ hạnh phúc và
vui sướng hơn khi cái t́m thấy lại là vật quí. T́m kiếm chính là mục đích
của Con Thiên Chúa khi xuống trần gian : “Chúa đến để t́m kiếm những ǵ đă
mất". Con người là đối tượng duy nhất mà Thiên Chúa muốn kiếm t́m. Con người
thật vô cùng quí giá trước mặt Chúa. Trong bài Tin Mừng cả ba du ngôn đều
xoay quanh chủ đề “đă mất”, con chiên bị mất, đồng tiền bị mất, đứa con bị
mất. Chúa yêu thương người tội lỗi, như người mục tử tốt lành sẵn sàng để
chín mươi chín con chiên lại đi t́m cho bằng được con chiên lạc. Thiên Chúa
yêu thương kẻ lầm lỡ, như người đàn bà cần mẫn, thắp đèn, quét nhà, moi móc
kiếm cho kỳ được đồng bạc đánh rơi. Chúa yêu thương tội nhân, như người cha
già nhân hậu, ngày ngày ra ngơ mong chờ con trở về.
Lạy Chúa Giê-su Thánh Thể,
Chúa luôn sẵn sàng tha thứ cho chúng con, dù chúng con là những người tội
lỗi, bất xứng nhưng Chúa mong chúng con thật ḷng sám hối quay trở về. Chúa
vui mừng khi người tội lỗi quay trở về như trong ba dụ ngôn Chúa đă kể lại:
người mục tử t́m được chiên th́ không hề phàn nàn, không h́nh phạt mà lại
vác chiên lên vai và mời bạn hữu láng giềng đến chia vui ; c̣n người đàn bà
t́m thấy đồng bạc đă mất cũng đă mời hàng xóm đến đề cùng chia vui với bà ;
rồi đến người cha có đứa con đi hoang trở về th́ mở tiệc lớn ăn mừng. Và
niềm vui lơn hơn nữa là “Giữa triều thần Thiên Chúa, ai nấy sẽ vui mừng v́
một người tội lỗi ăn năn sám hối”. Chúa mong chờ chúng con về để sống trong
t́nh yêu thương của Chúa, niềm vui đó chính là khi được mọi người sống thân
mật với Chúa. Cho dù con người có lầm lỡ thế nào, Người vẫn chờ đợi họ, vẫn
mở rộng ṿng tay đón tiếp.
Chúa
yêu thương con người đến cùng. Tuyệt đỉnh của yêu thương chính là tha thứ :
tha thứ tất cả, đón nhận tất cả, đề chứng minh cho t́nh yêu ấy Ngài đă chết
trên cây Thập Giá, ngay trong lúc hấp hối Người vẫn cầu xin tha thiết cùng
Chúa Cha “Lạy Cha, xin tha cho họ, v́ họ không biết việc họ làm ”(Lc 23,34).
Lạy
Chúa Giê-su Thánh Thể,
Xin cho chúng vững tin vào ḷng yêu thương vô cùng nhân hậu của Chúa, và
đừng bao giờ hồ nghi t́nh yêu thương Chúa dành cho chúng con, đề rồi chúng
con được ẫm trong ṿng tay yêu thương của Chúa bởi xưa Chúa đă nói với các
tông đồ trong Bữa Tiệc Li: “Ḷng các con đừng bối rối. Hăy tin vào Thiên
Chúa và hăy tin tưởng nơi Thầy. Trong nhà Cha thầy có nhiều chỗ ở ”(Ga 14,
1-2) .
Đỗ Lực op
Anh Em C̣n Nợ…
(Lc 15:1-32)
Tuần qua, trước khi từ giă cơi đời, danh ca Luciano Pavarotti đă thoải mái
nói : Thượng đế và tôi không c̣n mắc nợ ǵ nhau. Ông đă mắc nợ ǵ, nếu không
phải là món nợ t́nh yêu, yêu đời yêu Trời. Nhưng món nợ t́nh yêu ai có thể
trả xong ?
Càng suy nghĩ, càng không thể hiểu nổi bản chất vô cùng sâu xa của t́nh yêu.
Rất may, qua Tin Mừng Chúa nhật hôm nay, Chúa Giêsu mạc khải phần nào bản
chất t́nh yêu cao cả đó.
TỪ
VỰC THẲM
Các dụ ngôn trong chương Lc 15 thường được gọi là “Tin Mừng trong Tin Mừng.”
Chương 15 tóm tắt sứ điệp Luca về sự tha thứ và thống hối. Những chủ đề này
thường hay xuất hiện trong Luca hơn các Tin Mừng khác : ông Dacaria tiên báo
Chúa sẽ đem lại ơn tha tội (1:77), và lúc bắt đầu sứ vụ cả ông Gioan lẫn
Chúa Giêsu đều loan báo ơn tha thứ và sám hối. Lần cuối cùng Chúa sai các
môn đệ đi rao giảng sự thống hối và ơn tha thứ cho mọi dân tộc (24:47). Chủ
đề sám hối sẽ trở lại trong các bài giảng ở Công vụ Tông đồ và xác định rơ
phương hướng hoạt động trong cuộc đời thánh Phaolô (Cv 26:17-19).
Trong Kinh thánh, sám hối có một ư nghĩa rất phong phú. Tiếng Do thái
teshubah nhắc đến việc sám hối cá nhân v́ nghiệm thấy Thiên Chúa là Đấng từ
nhân và đầy cảm thông.” (Tv 51) Tiếng Hy lạp, metanoia gợi nhớ “việc tưởng
niệm và canh tân.” Việc “sám hối” ấy dẫn tới việc tha thứ tội lỗi, giải
thoát khỏi tù đầy và băi bỏ h́nh phạt. Sám hối không phải là leo lên tới
Thiên Chúa qua những nấc thang sầu đau và hối hận, nhưng là khám phá niềm
vui qua việc t́m kiếm Thiên Chúa. Đức Giêsu t́m cách hiệp thông và kết bạn,
rồi mới tới sám hối, kinh nghiệm về một Thiên Chúa t́nh yêu.
Chỉ có Thiên Chúa mới có thể mở rộng con tim, đem lại niềm vui lớn lao cho
con người. Đức Giêsu đă diễn tả niềm vui đó qua những chia sẻ rộn ràng của
người chăn chiên sau khi t́m thấy con chiên lạc, của người phụ nữ sau khi
kiếm lại được đồng bạc. Bữa tiệc sau đó phản ánh tiệc lớn trên thiên quốc,
bữa tiệc đem lại “niềm vui lớn lao trên thiên quốc v́ một người tội lỗi ăn
năn trở lại th́ hơn chín mươi chín người công chính không cần sám hối ăn năn.”
(Lc 15:7)
Theo dơi bước chân người con thứ trở về nhà cha, chúng ta có thể hiểu phần
nào ư nghĩa đích thực của việc sám hối. Người con thứ ra đi mang theo phần
gia sản : “Những ǵ của cha là của con.” Khi anh ta trở về, người cha sẽ nói
cùng một câu như thế với người anh cả, nhưng không theo cách chiếm hữu, mà
theo nghĩa chia sẻ và tặng dữ. Người con thứ muốn sống tách biệt để có của
riêng. Khi ĺa bỏ nhà cha ra đi, anh ta muốn tự ḿnh làm chủ chính ḿnh và
của cải ḿnh. “Của cải mà người con thứ phung phí có nghĩa là ‘bản tính’
trong ngữ vựng triết học Hy lạp. Chính người con hoang đàng đă tiêu tán hết
“bản tính của ḿnh’” (1) Với thời gian, anh nhận thấy những ǵ anh tưởng là
của riêng, đă bị cuộc đời “vét sạch.” Chẳng mấy chốc, anh nhẵn túi, mất cả
tư cách làm người. Anh đă đánh mất tất cả phẩm giá của ḿnh. Từ phẩm giá làm
con với đầy đủ quyền tự do, anh mơ ước làm thân nô lệ.
Từ
đáy vực khốn cùng, từ chỗ yếu đuối sâu thẳm nhất, anh đă hướng nh́n về người
cha. Ai cho tôi một chút vinh dự, một chút t́nh yêu ? Những vết thương ḷng
rỉ máu. Tôi đang sa lầy giữa cảnh lạnh lùng. Tôi sẽ đưa tay về hướng đâu ?
Chung quanh bầu bạn chỉ là sự trống vắng. Tôi xao xuyến lo âu. Phải chăng
chưa bao giờ tôi hiểu nổi t́nh yêu ?
Sau khi đă phá tán hết tài sản, người con thứ quyết định trở về. Nhưng anh
sợ không biết c̣n mặt mũi nào gặp lại người cũ cảnh xưa không. Có thể ḿnh
c̣n là ḿnh như trước khi ra đi chăng ? Anh rất muốn nhưng vẫn “lưỡng lự,”
dù “nhà cha” anh đă từng cư ngụ xưa kia. Thế nhưng, từ tận cùng bằng số,
trái tim anh nhớ lại niềm hy vọng tràn đầy t́nh yêu “Tại nhà cha tôi…” (Lc
15:17) Chỉ c̣n lại một ḿnh cha tôi mà thôi !
Anh mơ tưởng “cảnh tượng” lúc trở về, nhẩm đi nhắc lại điều anh có thể nói
trong hoàn cảnh ḿnh. Anh không dám mường tượng lúc trở về lại được sống
trong t́nh yêu anh đă phá vỡ bằng chính tính sở hữu ích kỷ của ḿnh. Anh chỉ
c̣n hy vọng trở về để kiếm miếng ăn chỗ ở lây lất qua ngày giữa những người
làm công … Anh không c̣n đáng được nhận làm con nữa. Khi người con đi kiếm
thức ăn, th́ người cha đưa cho anh một thức ăn khác để anh sống mà vẫn c̣n
là con, ngay cả khi người con chỉ có thể tưởng tượng cha vẫn hoàn toàn là
cha. Khi người con đi kiếm một chỗ ở, người cha ban lại cho anh một chỗ khác,
chỗ vẫn là của anh, ngay cả khi anh vắng nhà. Anh vẫn là trung tâm điểm của
t́nh yêu gia đ́nh. T́nh yêu là phần tài sản thừa kế không biến mất. Những
thứ thừa kế khác anh xài tan hoang rồi.
Cha anh đă không nói ǵ. Thay v́ trả lời, ông đưa ṿng tay ôm cứng lấy anh.
Ṿng tay đă ngăn không cho anh thực hiện điều anh yêu cầu. Người cha đă cắt
ngang, ngay khi mới nghe lời con nói. Ông làm cho anh khám phá thấy điều quư
giá nhất anh đă bỏ quên lúc ra đi. Niềm vui đột nhiên bùng vỡ : “Con ta đă
sống lại.” Tất cả đă biến tan nơi phương xa : sự giàu có, ảo tưởng, phẩm giá
… Giấc mơ cuối cùng chỉ c̣n là “đậu muồng heo ăn.” Nhưng t́nh yêu không bao
giờ tan biến (1Cr 13.8).
T́nh yêu muôn đời vẫn là một mầu nhiệm khôn ḍ. Qua một vài dụ ngôn Chúa
nhật hôm nay, Chúa Giêsu giúp chúng ta khám phá phần nào mầu nhiệm đó. Dụ
ngôn dài nhất thường được gọi là “người con phung phá.” Nhưng dưới cái nh́n
tích cực hơn, đó là “dụ ngôn người cha nhân hậu.”
ĐGH Bênêđictô XVI lại thấy đó là dụ ngôn về hai anh em. Cái nh́n khá sát
thực, v́ rơ ràng hai anh em tượng trưng hai nhóm người. Nhóm thứ nhất gồm
những thu thuế và tội lỗi. Nhóm thứ hai gồm Pharisêu và các kư lục. (2)
T́nh yêu thân phụ đă trả lại tất cả những ǵ người con thứ đă đánh mất. Món
nợ t́nh yêu người anh cả muôn đời c̣n mắc nợ người em thứ, v́ đă không đủ
bao dung để thông cảm và chia sẻ với em. Măi tới bây giờ, nh́n lại quăng đời
đă qua, người anh cả đă than thở : “Anh c̣n nợ em …” Đúng như thánh Phaolô
quả quyết : “Anh em đừng mắc nợ ǵ ai, ngoài món nợ t́nh yêu.” (Rm 13:8)
T́nh yêu là sức mạnh lôi kéo người con hoang đàng. Nhưng t́nh yêu lại trở
thành cung đàn lạc điệu đối với những ai đang mải mê t́m kiếm chính ḿnh.
Tuy không bỏ nhà ra đi như em, người anh cả đă tự tách ĺa cha quá xa. Anh
c̣n ở lại nhà. Thế thôi. Anh tự cho ḿnh là một người đầy tớ, chứ không phải
là một người thân thuộc trong gia đ́nh. Đàng khác, anh đă trách móc người
cha về người em thứ : “C̣n thằng con của cha đó !” Nhưng người cha mời anh
vào để gặp gỡ và nối lại t́nh yêu trong gia đ́nh : “Con, con cha … em con …
tất cả những ǵ của cha là của con.” Đứa con cha đă mất là em con và là con
cha. Nó phải được con yêu mến, chia sẻ niềm vui, và chấp nhận. Cả con nữa,
hăy mở rộng ṿng tay. Cha là cha của hai đứa chúng con.
T̀NH YÊU VÀ NHÂN PHẨM
Chính t́nh yêu phục hồi nhân phẩm. Người cha là một chứng từ điển h́nh.
Người cha đă phục hồi phẩm giá hoàn toàn cho người con thứ. Ngược lại, phản
chứng chính là người anh cả. Muôn đời anh không thể trả món nợ t́nh yêu cho
em ! Chẳng bao giờ anh có thể phục hồi phẩm giá người em. Từ đó t́nh anh em
tan biến. Con người sống bên nhau như gỗ đá, đồ vật hay máy móc mà thôi. Tội
lỗi từ đó phát sinh. Con người đánh mất khả năng sáng tạo và tái tạo như
Thiên Chúa.
Trái lại, Thiên Chúa trung tín không ngừng tái tạo những ǵ Người thương mến.
Chúng ta đang t́m kiếm sự tuyệt đối trong cuộc đời. Nhưng chúng ta đă đi vào
ngơ cụt. Thật khó lùi về đường xưa để t́m lại sự sống đă đánh mất ! Con
người từ chối yêu thương chân thành. Tội lỗi khép kín tâm hồn và dẫn đến bế
tắc trong tương quan với tha nhân. Bởi đó, không thể chấp nhận nổi thái độ
của người anh cả.
Phẩm giá người anh cả trở thành một vấn đề, v́ tương quan xă hội đă tan biến
sau thái độ cứng cỏi của anh. Quả thực, “tất cả mọi giá trị xă hội vốn gắn
liền với nhân phẩm và làm cho nhân phẩm phát triển đích thực. Chủ yếu những
giá trị này là : chân lư, tự do, công lư, t́nh yêu. Đem ra thực hành những
giá trị ấy là con đường chắc chắn và cần thiết để làm cho con người hoàn hảo
và ngày càng hiện hữu như một con người có tính xă hội hơn.” (3) Người anh
cả đă không thấy được tất cả giá trị lớn lao đó nơi em ḿnh, nên đă không
thể hành động như thân phụ. Anh tưởng khi không trả lại phẩm giá cho em,
ḿnh sẽ được hưởng trọn vẹn gia tài và tăng thêm phẩm giá của ḿnh. Ai dè,
chính phẩm giá anh cũng bị sút giảm hẳn trước mặt thân phụ.
Sự
thật người anh cả theo đuổi chính là lề luật và truyền thống gia đ́nh. Nhưng
anh quên mất một sự thật vô cùng to lớn đó là t́nh yêu. “Sống trong sự thật
có một ư nghĩa đặc biệt trong tương quan xă hội. Thực vậy, khi con người
sống chung với nhau trong một cộng đồng, xây dựng trên sự thật, th́ cộng
đồng sẽ có trật tự và hiệu quả, và tương xứng với phẩm giá con người.” (4)
Nếu người anh cả chỉ muốn xử lư với người em, chắc chắn sẽ có một khoảng
cách rất lớn trong gia đ́nh. Anh em không thể nh́n mặt nhau, dù sống trong
cùng một hoàn cảnh. Tự bản chất, gia đ́nh là một cộng đồng t́nh yêu. Nếu
không có sự tha thứ, làm sao t́nh yêu có thể hiện hữu như một nền tảng và lẽ
sống cho gia đ́nh ?
Nếu người anh cả đă tha thứ cho người em, chắc chắn cảnh gia đ́nh sẽ vui
tươi đầm ấm. Ai cũng tự do đi lại và sinh hoạt trong gia đ́nh mà không một
chút mặc cảm. Công cuộc xây dựng gia đ́nh sẽ đạt hiệu quả tối đa. Một khi
t́m lại phẩm giá, người em sẽ thấy ḿnh được mọi người tôn trọng, v́ “tự do
là là dấu chỉ phẩm vị tối cao của mỗi người.” (5) Phản ứng của người anh đă
là một trở ngại lớn nhất cho người em trên đường t́m về phẩm vị tối cao đó.
Ngược lại, người cha đă làm tất cả những ǵ cần thiết cho con thứ trở lại
địa vị ban đầu.
Giả sử người cha cũng không tha thứ cho người con hoang đàng, người con cả
cũng không v́ thế mà hưởng được tự do đích thực. Tuy lúc đó, một ḿnh một
cơi, nhưng anh cũng không thể được thân phụ và mọi người kính trọng. Thực
vậy, “giá trị của tự do được quư trọng khi mỗi phần tử xă hội được phép chu
toàn ơn gọi riêng của ḿnh. Đàng khác, tự do cũng là khả năng tự tránh xa
tất cả những ǵ có thể làm cản trở sự phát triển cá nhân, gia đ́nh hay xă
hội. Tự do trọn vẹn là khả năng tự chiếm hữu điều lợi ích đích thực, trong
khung cảnh công ích của mọi người.” (6) Như thế, rơ ràng càng cố gắng ngăn
cản người em chung hưởng gia sản thân phụ, người anh cả càng tỏ ra ích kỷ và
làm cho gia đ́nh, nhất là thân phụ, mất đi niềm vui lớn giữa cảnh gia đ́nh
phát triển và mọi người thăng tiến trong ơn gọi cá nhân.
Khi chối bỏ nhân cách của người em, người anh cả đă vượt quá quyền hạn của
ḿnh và đối xử bất công với em. Thực vậy, “công lư là hành vi dựa trên ư
muốn công nhận tha nhân như một nhân vị.” (7) Khi không c̣n công lư, làm sao
gia đ́nh trên thuận dưới ḥa ? Bởi đó, khi không chấp nhận người em, không
những người anh cả không có tấm ḷng bao dung như thân phụ, nhưng c̣n thiếu
hẳn ư chí để sống theo công lư. Sống trong t́nh trạng bất công, tất nhiên
con người sẽ không tránh được cuộc tranh đấu để giành dựt quyền lợi.
Lạy Chúa, xin cho chúng con luôn ư thức ḿnh đang đóng vai tṛ người anh cả
hay em thứ trong đại gia đ́nh dân tộc Việt nam. Xin cho chúng con biết bao
dung và tha thứ để t́nh yêu ngày càng trở thành sức mạnh giải thoát và nền
tảng xây dựng dân tộc Việt nam chúng con. Amen.
----------
1. ĐGH Bênêđictô XVI, Đức Giêsu Nadarét
2007:204.
2. ibid.
3. Tóm lược Học Thuyết Xă hội của Giáo Hội
2005, số 197.
4. Ibid., số 198.
5. Ibid., số 199.
6. Ibid, số 200.
7. Ibid., số 202.
|