HOME

 
 

Chúa Nhật XXIX Thường Niên - Năm C

Xh 17:8-13 ; 2 Tm 3:14 - 4:2 ; Lc 18:1-8

 

An Phong : Thiên chúa của Người nghèo

Như Hạ op : Cầu Nguyện Như Một Thách Đố 

Fr. Jude Siciliano, op. : Chúa Bênh Vực Kẻ Nghèo Hèn

Fr. Jude Siciliano, op : Chúa Ban Ơn Cho Kẻ Khiêm Nhường

G. Nguyễn Cao Luật, op : Tin Mừng Thúc Bách Tôi

Giuse Vũ An Tôn op : Hăy Kiên Tŕ Cầu Nguyện

 


An Phong

Thiên chúa của Người nghèo
Lc 18:1-8

Xă hội loài người

Chúa Giêsu kể chuyện một quan toà bất chính, ông ta "chẳng kính sợ Thiên Chúa mà cũng chẳng coi ai ra ǵ". Qua lối nói vắn gọn như thế, Chúa Giêsu muốn tŕnh bầy cho chúng ta một con người nắm quyền hành, ngang ngạnh, "khó chơi"...; và điều đó nói lên t́nh trạng bế tắc, dường như không c̣n con đường nào để một con người nhỏ bé trong xă hội, một bà goá, có thể t́m được công lư.

"Vũ khí" của người bé mọn

Tuy nhiên, điều tưởng chừng như không thể như thế lại trở nên có thể với ḷng kiên nhẫn. Ḷng kiên nhẫn của bà góa đă làm cho con đường bế tắc của người yếu thế được thành tựu, nhờ vào chính sự mệt mỏi của vị quan toà cứng ḷng. Người nghèo không có tiền bạc, không có sức mạnh, không có lư lẽ khôn ngoan, nhưng có một vũ khí lợi lại, đó là ḷng kiên nhẫn. Chính nỗi cực nhọc của đời sống làm cho người nghèo biết kiên nhẫn và có thể đạt được mục tiêu ḿnh mong muốn.

Dĩ nhiên, Thiên Chúa không phải là một quan án bất công. Dụ ngôn ở đây chỉ muốn củng cố kết quả của ḷng kiên nhẫn trong việc cầu nguyện. Nếu như ḷng kiên nhẫn có thể thay đổi lập trường của vị quán án hắc ám, th́ huống hồ ǵ đối với Thiên Chúa.

"Vậy chẳng lẽ Thiên Chúa lại không bênh vực những kẻ Người đă tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cứu với Người, dù Người có tŕ hoăn ?"

Sự kiên tŕ của niềm tin

Tuy nhiên, Chúa Giêsu không tŕnh bầy ở đây một sự kiên nhẫn thuần túy con người. Chúa cho thấy căn bản của vấn đề là ở ḷng tin. Chính ḷng tin vào chúa giúp người ta biết kiên nhẫn. Do đó, Chúa Giêsu muốn củng cố ḷng tin của người tín hữu khi khẳng định chắc chắn Thiên Chúa sẽ ra tay tiếp cứu, dù ra như Ngài có đến chậm. Đây là một vấn đề lớn của Giáo Hội sơ khai : người ta tưởng Chúa sắp đến để xét xử chung cuộc, những đợi măi mà vẫn chưa thấy, người ta tưởng Nước của Ngài sắp tỏ hiện huy hoàng, nhưng người Kitô hữu vẫn bị bắt bớ.... Ngày nay cũng vậy, đă có rất nhiều lời tiên báo về ngày tận thế, rồi nhưng rồi mọi sự vẫn trôi qua một cách "b́nh thường". Chúa Giêsu h́nh như hiểu rơ điều đó, Ngài phải thốt lên:

"Nhưng khi Con Người ngự đến, liệu Người c̣n thấy ḷng tin trên mặt đất nữa chăng? Thực sự ta không thể hiểu được cách làm của Thiên Chúa. Việc của ta và điều Chúa Giêsu nhắc nhở ta là : hăy vững tin, đừng sợ.; v́..."Người sẽ mau chóng bênh vực họ"

Lời nguyện :

Lạy Chúa Giêsu,

Có lẽ v́ con chưa ư thức t́nh trạng bế tắc của đời con như bà goá nghèo nọ,

nên con cũng chưa đủ ḷng tin,

ḷng kiên nhẫn trong lời cầu nguyện.

Con c̣n t́m nhiều đường lối khác để giải quyết đời con,

nên chưa hoàn toàn tin vào Chúa.

Xin tha thứ cho con.


Như Hạ op

Cầu Nguyện Như Một Thách Đố 
Lc 18:1-8 

Theo Viện Thống kê Gallup, "cuộc thăm ḍ dư luận từ ngày 21-23 tháng 9 cho biết 64% dân chúng Hoa Kỳ đă cho rằng tôn giáo “rất quan trọng” trong đời sống của họ, 47% nói họ đă dự lễ ở nhà thờ hay hội đường trong tuần lễ trước đó." (CWNews 5/10/2001) Sau đó cả nước Mỹ đă tổ chức ngày cầu nguyện cho các nạn nhân. Nhưng một số người vô thần phản đối, v́ theo họ không cần phải cầu xin ai cả. Chỉ cần dựa vào sức con người cũng có thể giải quyết vấn đề ! Nếu không có liên hệ chặt chẽ giữa niềm tin và lời cầu nguyện, liệu có sự phản đối đó không ? Chúng ta chờ đợi câu trả lời của Chúa trong dụ ngôn hôm nay.

HAI KHUÔN MẶT.

Đức Giêsu là một họa sĩ đại tài. Để thu hút giới hâm mộ, Người đă tô đậm một nền đen nghịt, tức là ông quan ṭa "chẳng kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng coi ai ra ǵ." (Lc 18:2) Con người ông là một khối băng giá ngất ngưởng giữa trời. Bằng chứng ông ngâm tôm vụ bà góa kiện đối phương "trong một thời gian khá lâu." (Lc 18:4) Chỗ dựa duy nhất của bà là người chồng không c̣n nữa. Bà mất tất cả. Bởi vậy, bà mới dễ dàng bị đối phương ăn hiếp. Ai muốn hại bà cũng được. Cuối cùng v́ không thể chịu không nổi, bà mới lôi đối phương ra ṭa. Hẳn vụ kiện không phải nhỏ. Sau bao ngày tháng kêu réo, bà đă thắng ḷng ĺ lợm của quan ṭa. Bà chỉ c̣n một phương tiện tranh đấu duy nhất là kiên nhẫn kêu than suốt đêm ngày tại cửa quyền. Quan ṭa bực bội hết sức. Cuối cùng, "ông ta nghĩ bụng : ?Mụ góa này quấy rầy mài, th́ ta sẽ xử cho rồi, kẻo mụ ấy cứ đến hoài, làm ta nhức đầu nhức óc.?" (Lc 18:5) Dầu sao, công lư đă trở lại pháp đ́nh, không phải v́ quan ṭa công minh hay có ḷng thương cảm đối với những người thấp cổ bé họng, nhưng chỉ v́ một lư do hoàn toàn cá nhân. Con người có thể ích kỷ cả khi làm một việc tốt cho người khác ! Dầu sao, việc bà bị đối phương hăm hại đă được đưa ra ánh sáng.

Sau khi đă tạo được một nền mờ tối như thế, Đức Giêsu đặt vấn đề : "Chẳng lẽ Thiên Chúa lại không minh xét cho những kẻ Người đă tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cứu với Người sao ? Lẽ nào Người bắt họ chờ đợi măi ? Thày nói cho anh em biết, Người sẽ mau chóng minh xét cho họ." (Lc 18:7) Mặc dù cao vượt hơn con người, nhưng "Thiên Chúa ta đầy ḷng trắc ẩn," (Lc 2:78) chứ không vô tâm như "quan ṭa bất chính ấy." (Lc 18:6) Thực tế, Thiên Chúa luôn dấn thân vào lịch sử nhân loại và can thiệp để kịp thời giải cứu những người cô thế cô thân.

Thiên Chúa sẵn sàng đáp ứng những khát vọng chính đáng của con người. Nhưng không thể hiểu Thiên Chúa như một cái máy rút tiền lúc nào cũng sẵn sàng nhả tiền cho khách hàng. Thiên Chúa thấu hiểu tất cả hiện tại và tương lai. Con người giống như người đứng dưới chân núi, không thể bao quát toàn cảnh như Thiên Chúa ở trên cao. Bởi đấy những nhận định của họ nhiều khi có tính cách chủ quan và hạn hẹp. Đó là nguyên nhân khiến lời cầu nguyện trở thành một thách đố. Những lúc lâm vào hoàn cảnh như thế, con người thường đồng hóa Thiên Chúa với bộ máy lạnh lùng, lạnh lùng hơn cả quan ṭa trong dụ ngôn hôm nay. Bởi thế, có nhiều người không tin vào lời cầu nguyện, nghĩa là không tin có Thiên Chúa lắng nghe khát vọng con người và giải quyết những khó khăn cuộc sống nhân sinh. Họ mất kiên nhẫn. Từ đó, họ có ác cảm với Thiên Chúa và mọi h́nh thức cầu nguyện.

Nhưng đối với tín hữu, cầu nguyện là lẽ sống. Con người có thể gặp thử thách, nhưng không tuyệt vọng khi chưa đạt được điều mong ước khi cầu nguyện. Thiên Chúa chưa đáp ứng không có nghĩa là Người từ chối lời cầu nguyện. Trái lại, cần phải biết chuẩn bị và biết lắng nghe Thiên Chúa. Nếu bà góa cũng chóng nản ḷng thối chí, chắc chắn chẳng bao giờ vụ kiện được minh xét. Ḷng kiên nhẫn đă trở thành một sức mạnh khiến cho lời bà thấu đến tai quan ṭa. Đó là một bài học đắt giá cho những ai muốn lời cầu nguyện thấu đến Thánh Nhan. Chính Đức Giêsu đă quả quyết : "Ai kiên nhẫn tới cùng sẽ được cứu thoát."

Không những cần kiên nhẫn, người tín hữu c̣n phải cầu nguyện không ngừng. Chính Đức Giêsu đă làm gương rất lớn và c̣n dạy chúng ta cầu nguyện cùng với Chúa Cha. Lời cầu nguyện của Người vào giờ phút bi thương nhất tưởng như rơi vào hư vô. Thế nhưng, Chúa Cha đă sai Thánh Linh phục sinh thân xác Đức Giêsu. Đó là lời đáp trả kỳ diệu của Thiên Chúa cho người công chính như Đức Giêsu. Lời cầu nguyện tuyệt vời của Đức Giêsu đă cuốn hút tất cả con người của Người vào trong t́nh yêu Thiên Chúa.

V́ thế, khi lắng nghe và nh́n thấy Đức Giêsu cầu nguyện, chúng ta mới biết ḿnh phải làm ǵ để Thiên Chúa nhận lời. Dĩ nhiên cần phải "mặc lấy Chúa Kitô" nghĩa là phải sống công chính như Chúa, để lời cầu nguyện có một sức mạnh. Hơn nữa, "chính việc trung thành với Thiên Chúa của Đức Giêsu là động lực cầu nguyện." (The New Jerome Biblical Commentary 1990:710) Nhưng nếu cho rằng lời cầu nguyện chỉ là một hành động chủ quan, một cách biến đổi chúng ta hay là cách diễn tả một sự bất lực hoặc một thứ hứng khởi tâm lư, đức tin chúng ta sẽ khác lạ với đức tin trong Thánh kinh. Tự căn bản Thiên Chúa chẳng màng ǵ tới những nhu cầu nhân loại và không đáp ứng nhu cầu đó. Thực tế, Thiên Chúa lắng nghe và đáp ứng lời cầu nguyện của "những kẻ Người tuyển chọn, hằng đêm ngày kêu cứu với Người." (Lc 18:7) "Lời cầu nguyện thực sự có ảnh hưởng nào đó trên cách Thiên Chúa hành động trong thế giới." (The New Dictionary of Catholic Spirituality 1993:766) Bằng chứng, khi giao chiến với quân Amalếch, chính nhờ lời ông Môsê cầu nguyện, dân Do thái đă chiến thắng (x. Xh 17:8-13)

KHỦNG HOẢNG ĐỨC TIN.

Chính nhờ niềm tin sâu xa nơi Thiên Chúa, ông Môsê đă đem lại sức mạnh cho dân Do thái. Con người hoàn toàn bất lực trước những nhu cầu giải thoát vô cùng lớn lao. Nhưng những ai hoàn toàn tin tưởng vào Thiên Chúa, sẽ thấy Người hành động để "hạ bệ những ai quyền thế" và "nâng cao mọi kẻ khiêm nhường." (Lc 1:52) Niềm tin đó phải được thể hiện qua việc cầu nguyện. Nói khác, cầu nguyện chính là một cách diễn tả niềm tin cách sống động và sâu xa nhất. "V́ khi cầu nguyện, chúng ta diễn những ǵ chúng ta tin về Thiên Chúa và về mối tương quan giữa chúng ta với Thiên Chúa." (The New Dictionary of Catholic Spirituality 1993:766) Lời cầu nguyện quả thật có một tầm quan trọng đặc biệt trong cuộc sống. Nhưng lời cầu nguyện chỉ thực sự có giá trị và sức mạnh khi phát xuất tự một "đức tin có chất lượng và sống động." (NIB 1995:339) Nếu tin, chúng ta sẽ thấy "chính Thiên Chúa quan tâm tới tạo vật và đáp ứng tiếng chúng kêu xin." (The New Dictionary of Catholic Spirituality 1993:766)

Nhưng niềm tin đó đang gặp khủng hoảng lớn lao trên thế giới. Nhân loại đang đánh mất chiều kích lớn lao nhất, chiều kích Thiên Chúa. V́ thế, con người không thể giải quyết những vấn đề phức tạp. Tương quan nhân loại trở thành nhạt nhẽo và trống rỗng. Bởi không tin Thiên Chúa và khinh thường anh em, nên họ cũng chẳng cần phải gắn bó với ai. Nhân loại phân rẽ thành các khối thù nghịch. Vết nứt càng ngày càng lớn thành một hố sâu sẽ nuốt sống toàn thể nhân loại. Để lấp đầy hố sâu đó, con người cần phải chạy đến với Thiên Chúa. V́ chỉ một ḿnh Thiên Chúa mới có khả năng "xẻ núi lấp sông" mà thôi. Bởi đấy, các tín hữu hoàn toàn tin tưởng sẽ t́m được sức mạnh đích thực trong lời cầu nguyện. Nhờ sức mạnh đó, con người có thể lớn lên theo một tầm vóc Đức Kitô. Càng dựa vào Thiên Chúa, con người càng trưởng thành. Niềm tin vô cùng quan trọng cho thăng tiến nhân loại theo chiều hướng cánh chung. cần kiên tŕ mới thấy được tất cả sức mạnh của niềm tin. "Nhưng khi Con Người ngự đến, liệu Người c̣n thấy ḷng tin trên mặt đất nữa chăng ?" (Lc 18:8)


Fr. Jude Siciliano, OP.

Thiên Chúa Bênh Vực Kẻ Nghèo Hèn
(Lc 18, 1 - 18)

Thưa quí vị.

Khi khai triển tin mừng hôm nay hôm nay, chúng ta phải cẩn thận kẻo dụ ngôn người đàn bà goá và viên quan toà bất chính dẫn chúng ta đi lạc đường. Nó có thể là một bài học quí giá về kiên tŕ cầu nguyện. Nhưng cũng là một cái bẫy nguy hiểm. Chúng ta có nguy cơ làm cho thính giả hiểu sai về Thiên Chúa, Đấng luôn đầy ḷng yêu thương. Trong câu truyện th́ ông quan toà độc ác, vô lương tâm. Không thể so sánh với Thiên Chúa. Xin nhớ lệnh truyền: "Các người sẽ không có thần lạ trước mặt ta (Xh 20, 3). Cho nên nguy hiểm giảng "thần lạ" cho giáo dân tuần này là rất lớn. Nếu chúng ta không lưu tâm về ư nghĩa của câu truyện. Ngay cả khi diễn giả có ư "ngay lành" khai triển nó theo chiều hướng đạo đức. Cái bẫy nằm ở chỗ những quí vị có đầu óc tân thời, quá tự do phóng khoáng, thích những chuyện giật gân, ăn khách.

Tôi muốn nói chúng ta thiếu kinh nghiệm, gượng ép những h́nh ảnh cầu kỳ làm sai lạc điều Chúa Giêsu dạy bảo. Thí dụ: Có vị so sánh ông quan toà là Đức Chúa Trời và nhân loại là các bà goá. Tác giả khuyên phải cầu nguyện không ngừng nếu muốn được Thiên Chúa nghe lời. Cứ cầu khẩn rồi th́ tất yếu Ngài nhượng bộ mà ban cho chúng ta điều ước muốn, bất kể nội dung cầu nguyên chính đáng hay không. Thành thử dụ ngôn biến thành cách nói ví von (allegory = biểu dụ). Hậu quả là chúng ta vẽ ra một Thiên Chúa ḷng chai dạ đá (hard hearted God) và những lời cầu nguyện của chúng ta giống như những giọt nước nhỏ măi, nhỏ măi trên mặt phiến đá khiến nó phải sói ṃn. Đức Chúa Trời sẽ mệt mỏi để rồi ban tất cả những thứ chúng ta xin. Ông quan toà trong dụ ngôn là một kẻ xấu, không có lương tâm, đầy tham nhũng so sánh với Thiên Chúa nhân hậu, từ bi sao được !

Chúng ta chỉ nên áp dụng một phần của dụ ngôn, tức ḷng kiên tŕ đ̣i hỏi của bà goá. C̣n phần không xứng hợp th́ bỏ qua. Nếu cứ ương ngạnh so sánh Thiên Chúa với ông quan toà thối nát, th́ khi cầu xin, chúng ta sẽ cảm thấy hoàn toàn cô đơn, bởi lẽ chẳng Thiên Chúa nào thèm lắng tai nghe và cũng chẳng biết cậy nhờ vào ai ! Đấng toàn năng đă được tô vẽ như một thần linh vô cảm ! Lúc ấy dù thanh minh thế nào đi nữa, chúng ta vô t́nh rao giảng về "thần lạ" cho tín hữu, chứ không phải Thiên Chúa là Cha Đức Giêsu. Thê thảm biết mấy, nhưng là điều thường xảy ra trong giáo hội. Người ta sáng tạo ra những tên hấp dẫn để gọi các thứ thần học ấy. Thí dụ : giải phóng, hậu Kitô giáo, nữ giới, địa phương, nhân quyền. Tựu trung là những h́nh ảnh giả tạo của một Thiên Chúa rập khuôn theo năo trạng riêng tư, phe nhóm. Hoặc một Thiên Chúa quá nghiêm khắc, oán phạt những kẻ xúc phạm, không tha thứ, không xót thương. Hoặc Thiên Chúa phân liệt, một nửa với chúng ta trong Đức Giêsu Kitô, nửa khác là thượng đế chí thánh cao ṿi vọi ở xa nhân loại.

Những ai năng đọc phúc âm th́ nhận ra ngay dụ ngôn này là của thánh Luca, không cần chỉ rơ. Bởi thánh nhân yêu thích đề tài này. Có một lần ông đă đề cập tới nó rồi. Đó là dụ ngôn người bạn quấy rầy (11, 5). Trong đó Chúa Giêsu tuyên bố một điều phấn khởi : "Cứ xin th́ sẽ được, cứ t́m th́ sẽ thấy, cứ gơ cửa th́ sẽ mở cho. anh em là những kẻ xấu mà c̣n biết cho con cái ḿnh của tốt lành, phương chi cha trên trời lại không ban Thánh Thần cho những kẻ kêu xin người sao". Câu truyên hôm nay cũng vậy. Quan toà tồi tệ mà c̣n phải nhượng bộ cho bà goá kiên tŕ huống hồ Đức Chúa Trời nhân lành ! Lời cầu nguyện của những kẻ nghèo hèn chắc chắn sẽ được Thiên Chúa lắng nghe. Thánh Luca đặc biệt lưu ư đến phụ nữ và trẻ con. Bởi họ là hạng người không quyền lực và dễ bị tổn thương. Xă hội chẳng mấy quan tâm đến họ, coi như những kẻ ngoài lề, thấp hèn. Điều đó được đại diện bởi bà goá trong dụ ngôn hôm nay, bà hoàn toàn lệ thuộc vào đàn ông, con trai, nhưng thường khi bị phản bội. Bà biết chạy đến ai để kêu cứu ? Dĩ nhiên đến quyền bính. Nhưng quan toà hôm nay được mô tả: "Chẳng kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng coi ai ra ǵ." Bà hết đường hy vọng, chỉ c̣n phương cách là chai ĺ năn nỉ.

Nhưng đây không phải là người đàn bà b́nh thường. Bà nhất quyết đ̣i cho được quyền lợi của ḿnh. Vũ khí là ḷng kiên tŕ đ̣i hỏi công lư: gặp quan toà thoái hoá bà cũng không nản ḷng. Bà làm cho ông ta mệt mỏi và bà đă đạt được mục tiêu. Theo ngôn ngữ gốc Hy lạp th́ ông sợ bà nổi sùng, cho ông vài cú đấm, có khi làm ông xưng mặt mù mắt. Phúc âm kể: "Nhưng mụ goá này cứ quấy rầy măi, th́ ta xét xử cho rồi, kẻo mụ ấy cứ đến hoài măi, làm ta nhức đầu nát óc." Lớp b́nh dân, thính giả của Chúa Giêsu lúc ấy, hẳn tức cười khi nghe Chúa mô tả người đàn bà "nguy hiểm" này. Bà tính đấu vơ và cho đo ván ông quan toà bất chính. Bởi họ cũng là nạn nhận của quyền bính, thường bị quan trên ức hiếp, tước bỏ quyền lợi, ăn cướp tài sản !

Tuy nhiên, số phận của bà ta cũng là số phận của tuyệt đại đa số quần chúng nhân dân thời nay. Các cuộc bầu cử ở nước Mỹ đang tới gần. Những chính trị gia, phe nhóm, đảng phái sẽ lắng nghe ai ? Quyền lợi của ai sẽ đứng đầu danh sách tranh cử ? Bằng tiền bạc, ảnh hưởng, họ luôn luôn làm mưa làm gió, làm băo táp trên nền chính trị nước Hoa kỳ ! Nếu không có những nhóm người này kêu gào th́ chúng ta đâu cần nhiều cuộc bầu cử đến thế ! Cho nên, trong suy nghĩ của họ không phải là quyền lợi của di dân, vô gia cư, thiểu số, ngoài lề, già cả, thanh niên thất nghiệp mà là của guồng máy tài chính, thương mại, các công ty đa quốc gia ! Hăy coi chừng các ứng cử viên. Họ thay đổi lời hứa như những chiếc chong chóng mà người Trung hoa gọi là cái thiên địa vận.

Xin lưu ư cụm từ: Thiên địa vận quay như chong chóng, th́ nền chính trị nước Mỹ cũng vậy. Nói chung mọi nền "dân chủ" đều như thế cả. Hỡi ôi, tâm địa loài người! V́ lẽ đó, chúng ta có thể hiểu tiếng nói của bà goá trong Tin Mừng từ góc cạnh khác. Lúc này bà nói thay cho những kẻ bị áp bức trong xă hội. Liệu lời yêu cầu của bà có được các tổng thống, nghị sĩ, dân biểu, tỉnh trưởng, thống đốc lắng nghe ? Liệu các nhà hoạch định chương tŕnh kinh tế, khoa học, môi trường, sinh thái, để ư đến các nhu cầu của tầng lớp nghèo khổ trong xă hội ? Hay vô tâm di dời, chiếm đất đai để lập công tŕnh, nhà máy mà không đền bù thoả đáng. Hăy tưởng tượng người đàn bà can đảm đứng giữa những phó thường dân kêu lớn: "Đối phương tôi hại tôi, xin ông minh xét cho." Tiếng kêu của bà cũng là của đa phần công dân các nước hiện nay. Người ta hứa hẹn công lư, nhưng là thứ công lư cho kẻ mạnh, lắm tiền nhiều của, c̣n dân đen tha hồ chờ đợi. Báo chí đầy dẫy những trường hợp như vậy. Có người đến 10, 20, 30 năm mới được minh oan. Lúc ấy tài sản đă tiêu tan hết v́ vụ kiện. Nhiều trường hợp khác nạn nhân chịu đựng bất công trọn cả cuộc đời.

Cho nên dụ ngôn này là một dụ ngôn "biết bao". Thiên chúa sẽ bênh vực các kẻ nghèo hèn, khốn khổ, kêu cầu Ngài hơn biết bao. Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu vẽ ra một ông quan toà đáng ghét. Nhưng ông buộc ḷng phải xét xử cho bà goá liên tục kêu oan và thỏa măn yêu cầu của bà. Như vậy Chúa Giêsu muốn dạy bảo: "Nếu như một người xấu đến thế mà c̣n phải nhượng bộ, huống chi Thiên Chúa, Đấng nhân lành vô cùng, lại không thương đến các số phận hẩm hiu hơn sao ? Đó là lư do để chúng ta tin cậy vào lẽ công b́nh của Ngài. Chắc chắn, Ngài chẳng bao giờ đang tâm chống lại dân ḿnh , một dân luôn chịu đựng thù ghét, áp bức, bóc lột bất công ! Dĩ nhiên, cuộc đấu tranh của Hội thánh, của từng tín hữu nằm ở sự kiện thế giới đầy dẫy bất công áp bức, nhất là đối với những kẻ thua thiệt trên đường đời. Chẳng khi nào, chẳng nơi đâu vắng bóng Satan gây chiến tranh, chết chóc. Cho nên cuộc vật lộn phải là trường kỳ và liên tục, buông lơi là xảy ra nguy cơ thất bại. Chúa Giêsu đă từng khuyên nhủ tín hữu phải luôn tỉnh thức.

Chúng ta phải hằng ngày cầu xin Chúa cho mọi sự được an lành và giúp đỡ cho danh thánh Chúa được tỏ rạng khắp nơi. Tuy nhiên, đừng hy vọng t́nh thế cải thiện. Nọc độc hoả ngục đă, đang, và sẽ nhuốm bẩn ḍng sông sự sống. Đôi khi chúng ta cảm thấy thất vọng v́ luân lư ngày càng tồi tệ. Chúng ta muốn ngưng cầu nguyện, giơ đôi tay lên trời than văn: Ích chi nữa đâu ? Khó khăn lớn quá, làm thế nào vượt được trong gia đ́nh, nơi làm việc, giáo xứ, hội đoàn, đâu đâu cũng thấy thất vọng. Chúng ta muốn thôi chiến đấu, thôi nguyện cầu, thôi làm việc cho Nước Chúa trị đến. T́m nơi trú ẩn cho thảnh thơi, an toàn. Chính Chúa Giêsu đă trông thấy trước những khó khăn này. Ngài nghĩ vấn đề rất nghiêm trọng nên đă đặt câu hỏi: "Liệu khi Con Người ngự đến, Ngài c̣n thấy ḷng tin trên mặt đất này nữa chăng ?". Ư Ngài muốn nói: cầu nguyện đ̣i hỏi ḷng tin, không có Đức tin chẳng thể cầu nguyện được. Ḷng tin đă mất th́ cầu nguyện làm sao ? Khi người ta ngưng tin kính th́ cũng ngưng cầu nguyện và ngược lại, người ta ngưng cầu nguyện v́ ḷng tin chẳng c̣n. Bởi vậy vấn nạn của Chúa Giêsu là có lư, nảy lên từ kinh nghiệm thực tế chứ không phải từ lư thuyết vô căn cứ ! Chúng ta luôn phải cảnh giác, thi hành đức tin, huấn luyện đức tin, để có thể cầu nguyện. Truyền bá đức tin, ngơ hầu xă hội, thế giới biết hướng ḷng lên cùng Thiên Chúa. Đó là bổn phận hàng đầu của mọi tín hữu.

Tác giả Barbara Reid trong cuốn "Parables for preachers" (dụ ngôn cho các nhà giảng thuyết) đưa ra ư kiến : Chúng ta phải t́m h́nh ảnh thần linh nơi người đàn bà goá, chứ không phải nơi ông quan toà bất chính. Bà can đảm và kiên tŕ chống lại quyền lực thối nát, tố cáo bất công cho đến khi công lư được văn hồi. Điều này phù hợp với quan điểm của Hội thánh, nhất là của Tân ước. V́ sứ điệp của Chúa Giêsu là bất bạo động và nơi kẻ yếu thế người ta t́m thấy sức mạnh. Thánh Phaolô nói: "Khi tôi yếu là lúc tôi mạnh hơn cả". Khi Chúa Giêsu chịu đóng đinh chịu chết là lúc Ngài chiến thắng và được tôn vinh. Như vậy, câu kết luận là như thế này: Nếu chúng ta được Thiên Chúa tạo dựng nên giống h́nh ảnh Ngài. Th́ chúng ta phải kiên tŕ theo đuổi công lư, giống như người đàn bà goá, ngay cả lúc quyền lực sự dữ quá lớn có thể đè bẹp ḿnh !

H́nh ảnh ông Mosê cầu nguyện trong bài đọc 1 làm tôi cảm động. Ông là mẫu mực sống động cho đức tin các tín hữu trong thời buổi khó khăn. Cuộc chiến đấu đầu tiên dân Do Thái gặp phải từ khi xuất hành ra khỏi Ai Cập là chống lại quân Amalek. Cuôc chiến rất gay go suốt ngày, khi thắng, khi bại. Ông Môsê giơ tay cầu nguyện th́ quân đội Do Thái thắng. Khi mỏi tay hạ xuống th́ quân đôị nhà thua. Người tín hữu có thể đồng hoá với Môsê lúc nhọc nhằn. Bởi nhiều khi chúng ta cũng cảm thấy mệt mỏi trong việc cầu nguyện. Gian truân của cuộc sống cũng làm chúng ta nhát đảm. Môsê đă phải cần đến sự trợ giúp. Hai ông Aharon và Khua nâng tay ông lên, mỗi người một bên, v́ vậy tay ông luôn giơ cao cho đến chiều hôm và Israel đă toàn thắng. Tất cả chúng ta đều cần Thiên Chúa trợ giúp trong cuộc chiến đấu chống thần dữ của ḿnh và trong những lúc gian nan khốn khó, để trung thành được với Đức Chúa Trời.

Trong thánh lễ này, xin hăy nh́n chung quanh ḿnh: Ông già bà cả, các bệnh nhân, các thanh niên thiếu nữ, cả trẻ con nữa. Họ đang trợ giúp chúng ta đấy ! Họ đang cùng cầu nguyện với chúng ta, nâng cánh tay chúng ta lên cao, ngơ hầu chúng ta có thể thắng trận. Ngay cả những người không đến nhà thời v́ bệnh tật, v́ ngăn trở công ăn việc làm. Chúng ta biết : họ vẫn cầu nguyện, vẫn kiên tŕ sống trung thành với ơn gọi Kitô hữu. Họ ban cho chúng ta sức mạnh và quyết tâm, vực chúng ta dậy trong lời cầu xin ră rời, nao núng. Họ cũng đang nâng cánh tay chúng ta lên cao để có thể thắng trận. Ngược lại, biết đâu nhiều linh hồn đang được khích lệ nhờ việc làm đạo đức của chúng ta. Chẳng dám khoe ḿnh là gương mẫu, nhưng Thiên Chúa biết chúng ta đang thành tâm và có ai đó khi xem thấy th́ được an ủi trong đức tin của ḿnh. Hy vọng chúng ta giúp đỡ họ bền vững, kiên cường trong lời cầu nguyện ngập ngừng chán nản. Và đôi tay họ cũng được nâng lên trong hy vọng và nguyện xin. Amen.


Fr. Jude Siciliano, OP
.

Chúa Ban Ơn Cho Kẻ Khiêm Nhường
Lc 18:1-8

Thưa quư vị.

Tại sao Chúa Giêsu cần phải nói dụ ngôn này với các môn đệ ? Tại sao Ngài nghĩ rằng các môn đệ có thể trở nên nhàm chán cầu nguyện ? Tại sao Chúa muốn chúng ta phải liên tục cầu nguyện ? Ngài biết có điều chi khẩn thiết trong cầu nguyện mà chúng ta không biết ? Hàng trăm câu hỏi tương tự trong bài Tin Mừng hôm nay. Nhưng chắc chắn chúng ta phải biết một điều mà Chúa Giêsu đă biết, đó là các cơn cám dỗ thúc giục chúng ta từ bỏ cầu nguyện. Có hàng triệu lư do để chúng ta chấm dứt cầu nguyện hoặc để chúng ta cảm thấy cầu nguyện là vô ích. Chúa chẳng thèm nghe lời chúng ta, chẳng quan tâm ǵ đến các nhu cầu của chúng ta, hay chúng ta cầu nguyện không xứng đáng nên Chúa không chấp nhận.

Để nghiêm chỉnh trả lời các nghi vấn đó, chúng ta hăy gạt qua một bên những lối cầu nguyện ích kỷ như xin được giàu có, nhiều của cải, con cái thành công, làm giám đốc xí nghiệp nọ, công ty kia, kết hôn với anh đẹp trai, cô xinh gái, v.v… mà hăy tập trung vào vấn đề cốt yếu thân phận làm môn đệ Chúa.

Một trong những lư do khiến chúng ta cầu nguyện uể oải là cuộc chiến đấu triền miên chống lại thế giới thù nghịch, thế giới thờ ơ, trong đó người tín hữu cảm thấy ḿnh chỉ là một món đồ cổ được lưu trữ trong bảo tàng viện, kỳ quặc và cứng đơ, đang bị thời gian gặm ṃn. Chúng ta không c̣n được coi như một nhân tố lập thành các giá trị nữa, không có mấy ảnh hưởng trong các lựa chọn ưu tiên của thế gian. Những điều chúng ta coi là thánh thiêng thường bị gạt ra ngoài, không mấy quan trọng. Chúng ta nh́n một hướng, đa phần nhân loại nh́n hướng khác. Chúng ta đấu tranh đ̣i hỏi hoà b́nh, chấm dứt kỳ thị chủng tộc, bất khoan dung tôn giáo, phân chia tài nguyên đồng đều, tôn trọng sự sống, môi trường sống, cộng đồng đức tin sinh động, đối xử công bằng với nữ giới trong Hội Thánh và trong xă hội, chấm dứt bạo lực. Tóm lại chúng ta ước mong những ǵ Chúa Giêsu gọi là thiện hảo th́ được nhân loại đồng t́nh, ngơ hầu thế giới ngày càng trở nên chỗ ở tốt đẹp, an toàn cho mọi người.

Nhưng hai ngh́n năm rồi, chúng ta hoàn toàn ngạc nhiên khi nh́n lại lịch sử ! Có chi đổi khác đâu ? Mùa hè vừa qua Hồng y Murphy O'Connor nói với những người Công giáo Anh Quốc rằng : Tinh thần Kitô giáo đă biến mất khỏi nước Anh. Không phải Ngài có ư nói không c̣n các cộng đồng Kitô giáo sống động ở đó nữa, mà rằng trong văn hoá xă hội, Kitô giáo không c̣n có sân chơi, không c̣n có ảnh hưởng đủ để gây ư thức trong các sinh hoạt xă hội, nhất là trong các tầng lớp đưa ra những quyết định quan trọng liên quan đến vận mệnh quốc gia như giáo dục, y tế, khoa học, kinh tế, v.v … Chúng ta nghĩ thế nào về nhận xét của đức Hồng y áp dụng vào hiện t́nh đất nước chúng ta ? Chúng ta có thực sự giúp đỡ thế giới trở nên một chỗ ở tốt lành cho mọi người ? Hay chúng ta về phe với kẻ dữ làm cho nó trở nên tệ hại hơn, xấu xa hơn cho con cháu chúng ta ? Vậy th́ chẳng lạ chi Chúa Giêsu đă công bố dụ ngôn này cho các Tông đồ ! Chúng ta cần nhiều khích lệ hơn để đừng phản bội chính ḿnh, phản bội giáo hội, và nhất là chúng ta cần nhiều khích lệ hơn nữa để đừng phản bội Thiên Chúa. V́ vậy Chúa Giêsu đă trao cho chúng ta, cho nhân loại dụ ngôn này.

Chúng ta đặt tên nó ra sao ? Trong kinh thánh xuất bản ở Mỹ, bằng tiếng Mỹ, người ta đặt tên cho nó là : "Quan toà thối nát" (The corrupt Judge). Kinh thánh Việt Nam gọi là : "Quan toà bất chính". Phần mỗi người, chúng ta đặt tên theo cảm nghiệm của ḿnh. Ai trong hai nhân vật của dụ ngôn thu hút suy nghĩ của chúng ta nhiều nhất ? Ông quan ṭa hay người đàn bà goá. Cả hai, chẳng ai có tên tuổi. Họ đại diện cho ai ? Điều chắc chắn là bản văn đích thực của thánh Luca với luận đề quen thuộc : Sự cầu nguyện. Thánh Luca nhấn mạnh sự cầu nguyện trong suốt sách Tin Mừng của ngài. Chúa Giêsu thường xuyên cầu nguyện, nhất là ở những giây phút quyết liệt. Trong sa mạc hoang dă suốt cả đêm trước khi lựa chọn nhóm 12, khi biến h́nh, ngoài dụ ngôn này, Chúa c̣n kể nhiều dụ ngôn khác nữa về cầu nguyện. Trước khi tắt thở trên cây thánh giá, trong đau đớn tột cùng Ngài thốt lên lời cầu nguyện : "Lạy Cha con phó linh hồn con trong tay Cha". Ngài là hiện thân của những lời Ngài khuyên nhủ. Ngài luôn luôn cầu nguyện và không bao giờ trở nên uể oải, ngay cả khi phải đối mặt với đau khổ, thất bại, cay đắng nhất.

Dụ ngôn này không có bối cảnh hậu trường. Nó được áp dụng cho hết mọi xă hội, mọi thời gian. Những bà goá, trẻ mồ côi trong các xă hội đó là những nạn nhân thường xuyên nhất của bạo lực và áp bức. Họ cần được luật pháp che chở. Kinh thánh Do Thái chỉ định nhiệm vụ đặc biệt cho các quan toà là phải bảo vệ trung thành và bền bỉ các bà goá, trẻ mồ côi, người nghèo khổ khi họ bị đối xử bất công. Nếu những ông quan toà đó lại trở nên "thối nát" th́ họ trông cậy vào đâu để được minh oan ? Chúa Giêsu có lẽ đă lợi dụng t́nh trạng hiện thời của xă hội Do Thái để dựng nên dụ ngôn này. Tố giác các quan toà bất chính. Chúng ta có dám làm công việc tương tự cho xă hội đương đại ? Câu trả lời tuỳ vào lương tâm ngay chính hay cong queo của các nhà mô phạm.

Về phần ông quan toà, liệu ông có thành thực trong sự nhượng bộ của ḿnh ? Dù thế nào đi nữa, ông không thể nào đứng làm h́nh ảnh cho Đức Chúa Trời nhân lành. Động lực ông nhượng bộ không phải là cao thượng, nhưng là thấp hèn, để khỏi bị quấy rầy. Trong khi Thiên Chúa luôn trả lời cho những kẻ kêu xin Ngài. Trả lời bằng ân huệ tốt nhất là Thánh Thần (Lc 11, 13). Sách Gương phúc nói : "Thiên Chúa biết phải ban ơn ǵ cho ai (3, 22), ban bao nhiêu, ban lúc nào (3, 15)". Ngài không ở xa, Ngài ở rất gần để lắng nghe những kẻ nghèo hèn, bần cùng kêu xin. Chúng ta không được nhận lời không phải v́ Thiên Chúa nặng tai, hay quá bận rộn, mà chỉ v́ chúng ta không có đủ đức tin và kiên nhẫn (Lc 17, 5). Ông quan toà chỉ có ư nghĩa so sánh từ thấp đến cao, từ xấu đến nhân lành. Người đàn bà tượng trưng cho sự thắng thế của những kẻ yếu hèn. Hay nói cách khác, sức mạnh của những kẻ không quyền lực. Bà ta đ̣i hỏi ông quan toà cho đến khi ông phải xét xử cho bà. Kinh thánh Cựu Ước nói : "Kiên nhẫn thắng mọi sự" (Patientia vincit omnia). Thánh Phaolô phát biểu : "Khi tôi yếu là lúc tôi mạnh hơn cả". Chúa Giêsu nằm trong trường hợp của bà goá. Ngài đạt tới thắng lợi và vinh quang chính vào lúc Ngài chẳng có chút quyền lực nào. Ngài hoàn toàn yếu đuối khi người ta xét xử và đóng đinh Ngài, chính lúc ấy Ngài được tôn vinh, được đặt làm Đức Chúa trên trời và dưới đất.

Đối với chúng ta, những người tự nhận theo chân Chúa, có lẽ chúng ta đă chấm dứt cuộc chiến cho mục tiêu chống lại sự dữ, sự bất công thế giới từ lâu, giơ cả hai tay đầu hàng. Nỗi khó khăn lớn quá không thể?thắng nổi, nếu không cảm nhận được quyền lực của kẻ yếu, "cầu nguyện không nghỉ". Động lực của cầu nguyện là đức tin. Không có đức tin không thể cầu nguyện. Chấm dứt cầu nguyện là chấm dứt đức tin. V́ thế Chúa Giêsu nói : "Khi Con Người đến, liệu Người c̣n thấy đức tin trên mặt đất này nữa chăng ?" nói cách khác liệu c̣n thấy người ta cầu nguyện nữa chăng ? Trở lại với vụ tấn công Lầu Năm Góc và toà nhà Trung tâm thương mại ngày 11 tháng 9. Trong khi tôi đang viết bài này th́ người ta kiên nhẫn lật từng viên gạch, làm việc theo ca kíp 16 hay 17 giờ một ngày với hy vọng t́m thấy ai c̣n sống sót. Tôi hỏi ông trưởng cứu hỏa : C̣n hy vọng ǵ nữa đâu sao không dùng máy ủi cho nhanh. Ông trả lời : tôi có ra lệnh họ cũng chẳng nghe. Bao lâu c̣n hy vọng, họ c̣n t́m kiếm. Đức tin vào cuộc sống đă giữ họ kiên nhẫn đến như vậy ! Thánh Thần cũng nâng đỡ chúng ta trong cầu nguyện để chúng ta tiếp tục chiến đấu cho chính nghĩa của Thiên Chúa.

Bài đọc một cũng có cùng chủ đề : cầu nguyện. Ông Môisen giơ tay lên trời cầu nguyện th́ dân Israel thắng trận. Khi ông hạ tay xuống th́ dân thua. Muốn thắng trận luôn th́ hai ông Aaron và Hur phải đỡ tay ông Môisen, mỗi người một bên. Các ông phải kiên tŕ cho đến buổi chiều quân Amalec mới bị đánh tan. Như vậy cuộc chiến đấu không phải dễ dàng. Chúng ta chẳng có thể và cũng chẳng nên vận dụng lời cầu nguyện kiểu đó. Nhưng tính kiên tŕ kêu xin là không thể thiếu được, bởi nó luyện tập ḷng kiên nhẫn và sự khiêm nhường của chúng ta, kiêu ngạo th́ làm thế nào được ân huệ ? Chúa luôn ban ơn cho kẻ khiêm nhường. V́ thế dụ ngôn hôm nay thực là chí lư. Mấy ai thấu đáo được ư nghĩa. Amen.


G. Nguyễn Cao Luật, op

Tin Mừng Thúc Bách Tôi
Lc 18:1-8

Hơn một năm trước đây, nhân loại trong bầu khí chuẩn bị buớc vào thiên niên kỷ thứ ba, kỷ niệm 2000 năm Mầu Niệm Nhập Thể. Trong dịp trọng đại đó, Giáo hội nh́n lại việc loan báo Tin Mừng cho thế giới, đồng thời đề ra những đường huớng mới cho một cuộc loan báo Tin Mừng cách cụ thể cho từng châu lục. Đặc biệt với giáo hội tại Á Châu đă vui mừng đón nhận được Văn kiện "Eccelesia in Asia - Giáo Hội Tại Á Châu" được công bố tại New Delhi (Ấn độ), tháng 11 năm 1999, như một "kim chỉ nam" cho giáo hội nơi đây chuẩn bị mừng Năm Đại Toàn xá 2000; đồng thời có dịp nh́n lại vấn đề truyền giáo của ḿnh và t́m ra một hướng đi mới cho thiên niên kỷ này.

Và mới đây trong phiên họp chung ngày 10-10-2001, ĐHY Jan Schotte, Tổng thư kư Thượng Hội Đồng Giám Mục, đă loan báo các nghị phụ về việc công bố Văn kiện Hậu- Thượng Hội Đồng Giám Mục riêng của Châu Đại dương (Ecclesia in Ocaenia). Ngài nói : "Tôi vui mừng loan báo trong phiên họp chung này là Đức Thánh Cha, sau khi suy tư lâu dài và bàn hỏi, đă quyết định công bố Tông huấn Hậu- Thượng Hội Đồng "Ecclesia in Oceania" tại Vatican (thay v́ đi đến một địa điểm trong miền này), trong một buổi tiếp kiến riêng, được ấn định vào ngày 22 tháng 11 năm 2001, lúc 11g30, tại Pḥng Khánh Tiết Clementina của Phủ Giáo Hoàng, nhân dịp kỷ niệm năm thứ bốn của lễ nghi khai mạc khóa họp riêng cho Châu Đại dương".

ĐHY Jan Schotte nhấn mạnh: "Trong lúc này, tôi xin các Nghị phụ cầu nguyện cho Giáo hội tại Châu Đại Dương, đă từ lâu chờ đợi với nhiều lo âu về văn kiện này. Giáo hội trong miền này được mời gọi đón nhận giáo huấn Hậu Thượng Hội Đồng trong tinh thần yêu mến, được mời gọi phổ biến văn kiện này và thực hiện nội dung của nó trên cấp bậc giáo phận và giáo xứ với ḷng nhiệt thành truyền giáo, đáp lại lời kêu gọi của Đức Thánh Cha tiến đến việc tái rao giảng Tin Mừng, cách riêng trong lúc bước vào Ngàn Năm thứ ba".
Với những ư nghĩa đó, Chúa Nhật Truyền Giáo có chiều kích của một cuộc khởi khởi đầu mới trong nỗ lực loan báo Đức Giêsu cho thế giới.

Anh em sẽ làm chứng cho Thầy

Các tông đồ là những người được Đức Giêsu kêu gọi để chia sẻ cuộc sống của Người; các ông đă được tham dự và chứng kiến những biến cố khác nhau trong cuộc đời của Đức Giêsu. Những điều đó không phải chỉ là những sự kiện lịch sử,?không phải chỉ làô1 xảy ra trong quá khứ. Các tông đồ không phải chỉ là những chứng nhân về những sự kiện tầm thường. Trái lại đây là những biến cố làm đảo lộn lịch sử, những biến cố đem lại ơn giải thoát cho con người, và các tông đồ là những người loan báo, những người tiếp tục thực hiện công tŕnh ấy.

Những biến cố tập trung vào sự kiện: Đức Ki-tô đă chết và sống lại. Các tông đồ không làm chứng về điều ǵ khác ngoài sự kiện đó. Đó không phải là hoạt động của con người, nhưng là những hoạt động của Thiên Chúa, để thể hiện t́nh thương và ơn cứu độ cho thế giới. Loan truyền sứ điệp ấy có nghĩa là làm chứng về biến cố quan trọng này. V́ đó là biến cố quan trọng nên phải dồn hết mọi nỗ lực, mọi khả năng để loan báo, để làm chứng. Phải làm chứng bằng lời nói, bằng đời sống và có khi bằng máu nữa.

Do đó, ư thức được tầm quan trọng của sứ điệp, các tông đồ, những người đă được chứng kiến tận mắt, đă đem hết cuộc đời của ḿnh để làm chứng : các ông đă giảng dạy, đă viết thơ, viết sách, đă chịu nhiều gian nan vất vả với một ước mong duy nhất là sứ điệp phục sinh được công bố cho tất cả mọi người. Các ông đă không ngần ngại chịu đổ máu, chịu hy sinh cuộc đời, bởi v́ các ông được sai đi làm nhân chứng, theo gương Vị Thầy, Đấng đă gọi và sai các ông đi.

Và, như lịch sử cho thấy, việc loan báo sứ điệp Ki-tô giáo trong những thế kỷ đầu tiên dựa trên biến cố nền tảng này. Các ki-tô hữu thời sơ khai không chú trọng về các quy luật luân lư, cũng không tŕnh bày nhiều về các chi tiết trong cuộc đời Đức Giêsu, nhưng tất cả cuộc sống, mọi sinh hoạt của họ đều xoay quanh biến cố phục sinh, v́ họ hiểu rằng, đó là biến cố trọng tâm của lịch sử ơn cứu độ.

Như vậy, sứ điệp Ki-tô giáo không phải là một ư tưởng sáng tạo, một sáng kiến độc đáo chi phối những khám phá mới; cũng không phải là việc t́m kiếm các chân lư, nhưng chính là xác quyết sự kiện: Đức Ki-tô đă chết và sống lại. Ki-tô giáo trước hết là một biến cố, và người loan báo phải làm chứng về biến cố ấy.

Tin Mừng thúc bách tôi

Ơn cứu độ phải được loan đi cho đến tận cùng vũ trụ. Đó là sự nôn nóng của một tâm hồn đă được đổ tràn t́nh thương của Thiên Chúa. Đó cũng là thao thức của một tâm hồn đă được cảm hóa nhờ sự chết và sống lại của Đức Ki-tô, và đó cũng là niềm phấn khởi của tâm hồn tràn đầy sức sống và gắn bó sâu xa với Đức Ki-tô.

Người làm chứng phải là người có kinh nghiệm về điều ḿnh làm chứng. Tin Mừng không phải chỉ là những điều được rao giảng, được công bố, nhưng chính là cuộc sống, là những tiếp xúc thâm sâu với Đức Giêsu, để rồi từ đó mới chuyển qua những hoạt động cụ thể, những công việc bên ngoài.

Đă có một thời người ta quan niệm việc truyền giáo như là những hoạt động rầm rộ nhằm áp đặt, lôi kéo người khác theo đạo. Dĩ nhiên, những công việc này rất ích lợi nếu phát xuất từ tấm ḷng nhiệt t́nh với Tin Mừng, với ơn cứu độ. Khốn thay, không phải lúc nào cũng được như thế. Không những người ta đă bó buộc, đă áp đặt, nhưng c̣n lợi dụng danh nghĩa truyền giáo để mưu t́m những ích lợi cho riêng ḿnh…

Tuy thế, chúng ta không hề có ư phủ nhận công lao vất vả của các vị truyền giáo đă đem Tin Mừng đi khắp thế giới. Chỉ có điều là, vẫn có những bóng đen trong lịch sử truyền giáo, và điều ấy phải là một kinh nghiệm sâu sắc cho cuộc loan báo Tin Mừng mới.

Như vậy, truyền giáo không phải là lôi bè, kết đảng làm sao lôi kéo nhiều người về với phe ḿnh. Nhưng truyền giáo phải là tiếng gọi, là nhu cầu bên trong của cơi ḷng tha thiết yêu thương, của tâm hồn có được kinh nghiệm về Đức Giêsu. Ngoài ra, truyền giáo cũng chính là để mọi người được sống trong t́nh thương, được tôn trọng để từ đó Nước Chúa được hiển trị và muôn người hợp nhất nên một trong ơn cứu độ nhờ mầu nhiệm Đức Ki-tô chịu chết và sống lại.

Từ đó, con đường hành động của người Ki-tô hữu không thể nào khác hơn con đường của Thầy ḿnh: là hạt lúa ḿ gieo vào ḷng đất, chịu thối rữa đi; là phải cúi xuống rửa chân cho anh em ḿnh, là phải sẵn sàng phục vụ giúp đỡ những người khó khăn bên cạnh ḿnh … nghĩa là phải đối xử với mọi người cách chân t́nh, đầy tâm t́nh yêu mến và kính trọng, bởi v́ tâm hồn ḿnh đang thấm đầy t́nh yêu và sức sống của Đức Ki-tô, Đấng đă chịu chết và sống lại cho tất cả mọi người.

Tin Mừng là tin mừng t́nh thương, chỉ khi nào con người sống trong t́nh thương, và loan báo, thể hiện t́nh thương đó, khi ấy mới thực sự là truyền giáo.

Lạy Chúa, con là sứ giả của Chúa

 

"Lạy Chúa,

Chúa đă muốn chọn con để cộng tác vào việc loan báo Tin Mừng của Chúa.

Chúa muốn đến với nhân loại qua cuộc đời của con.

Chúa muốn đi sâu vào cơi thâm cung của ḷng người qua trung gian của con.

Con là người được tham dự vào công tŕnh của Chúa,

con là sứ giả của Chúa.


Không c̣n ǵ vĩ đại hơn, không c̣n danh hiệu nào vinh dự hơn.

Vâng, lạy Chúa, Con biết rơ điều đó.

Chính Chúa đă kêu gọi con, đă đổ xuống trên con t́nh thương của Chúa.

Chính Chúa đă đóng dấu ấn của Chúa trên con,

dù con khốn khổ và nghèo hèn.

Chúa đă muốn dùng con để công bố những điều kỳ diệu

mà không sợ rằng chân lư bị suy suyển v́ tội lỗi của con.

 

Riêng con,
con rất vui mừng và sung sướng

được góp phần nhỏ nhoi của ḿnh vào công việc lớn lao của Chúa.

Con cảm thấy hạnh phúc

v́ được trở nên khí cụ để Chúa bày tỏ quyền năng.


Xin cho con luôn cảm thấy ngỡ ngàng

khi thấy có những người nhận ra được Chúa đă sai con đi

và đă đón nhận con với tư cách là sứ giả của chúa.

Xin cho con cảm nhận được niềm vui chân thật đó

mỗi khi con được đón nhận, dù con thật bất xứng.

 

Nhưng lạy Chúa,

Con cũng nhận ra đây là một gánh nặng.

Con phải hoàn thành sứ mạng đă được trao phó "

khi thuận tiện cũng như lúc khó khăn".

Con phải loan báo về Chúa, phải làm chứng

- v́ khốn cho con, nếu con không rao giảng.

Con không thể tháo lui, bỏ mặc sứ mạng của ḿnh.

Con phải ra đi, ra khỏi ḿnh để loan báo,

để thể hiện ơn cứu độ của Chúa cho mọi người,

dù người đó là ai chăng nữa.

 

Đôi lúc con cảm thấy ḿnh không đủ sức để chu toàn sứ vụ,

đôi lúc con cảm thấy sứ vụ quá khó khăn

mà dường như con không thể vượt qua.

Xin con luôn nhớ rằng Chúa vẫn ở bên con, vẫn là người hướng dẫn,

vẫn là người chịu trách nhiệm về sứ vụ đă trao cho con.

Xin cho con đủ tin tưởng và can đảm để trở thành một khí cụ tốt …

 

Và lạy Chúa,

Làm sao con có thể thông truyền chân lư của Chúa

mà chính con lại đă không đích thân chiếm lấy chân lư ấy,

và Chúa cũng đă chẳng chiếm lấy con rồi ?

Làm sao con có thể loan báo Tin Mừng

mà đă không được Tin Mừng ấy ghi dấu sâu xa nơi tâm hồn ḿnh.

Làm sao con có thể làm chứng về Chúa

nếu con đă không có kinh nghiệm về Chúa ?

Con hiểu rằng Chúa là Ánh Sáng,

và ánh sáng đó bừng lên là nhờ chất dầu của cuộc đời con.

Con phải để cho ánh sáng đó bừng lên trong cuộc đời ḿnh

trước khi bừng lên trong thế giới.

 

Cuối cùng, lạy Chúa,

Chúa đă muốn sử dụng con,

xin đừng để con thành một ngăn trở.

Xin đừng để những vụng về, những yếu đưối của con

làm hỏng đi công tŕnh của Chúa,

trái lại, xin cho mọi người đón nhận được Chúa qua cuộc đời của con."

Theo Karl Rahner


Giuse Vũ An Tôn op

Hăy Kiên Tŕ Cầu Nguyện
(Lc 18,1-8)

Cầu nguyện là một giáo huấn xuyên suốt trong Tin Mừng : Cầu nguyện được xem như một linh dược đem lại cho chúng ta tất cả những ǵ chúng ta cần thiết. Thế nhưng chúng ta cần cầu nguyện như thế nào cho phải, khi trong cuộc sống chúng ta đă từng kinh nghiệm, có những điều chúng ta cầu xin măi mà chẳng được như ư chúng ta đă cầu xin ?

Qua dụ ngôn quan toà bất chính và bà goá quấy rầy hôm nay, Chúa Giêsu đă đưa ra lời khuyên và cũng là câu trả lời cho chúng ta biết nên làm ǵ, đó là : Hăy kiên tŕ cầu nguyện. Thử hỏi c̣n hoàn cảnh nào tuyệt vọng cho bằng hoàn cảnh một bà goá nghèo khó, cô thân cô thế, phải đương đầu với một quan toà bất lương ? Ấy vậy mà sự kiên tŕ cầu xin đă đạt được chiến thắng trong một hoàn cảnh tuyệt vọng đến thế. Nếu như thái độ kiên tŕ cầu xin đă khuất phục được một viên quan toà chai ĺ, vô tâm th́ tại sao sự bền đỗ và kiên tŕ trong cầu nguyện lại không thể lay động Cha Trên Trời của chúng ta là Đấng đầy ḷng nhân ái ? Phải chăng từ trước đến giờ chúng ta không xin được điều chúng ta khẩn cầu, là v́ chúng ta chỉ nài van trong chốc lát, và sau đó, chúng ta chán chường khi thấy không được ban ngay điều chúng ta mong ước ?

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, được sống trong thế giới đầy đủ mọi tiện ích th́ dường như chúng con lại đang đánh mất dần ư thức về sự can thiệp của Thiên Chúa vào cuộc sống của ḿnh. Đau ốm ư ? Cần ǵ phải mất thời gian để vào nhà thờ cầu nguyện, đă có những pḥng khám, bệnh viện hiện đại với thầy thuốc chuyên môn luôn chào đón chúng con. Chỉ cần có tiền là chúng con sẽ được quyền chọn bác sĩ giỏi, chọn thuốc tốt cho ḿnh. V́ thế, không lạ ǵ khi trong thời đại văn minh hưởng thụ ngày nay, cầu nguyện xin ơn đă trở thành một việc hết sức xa xỉ, tốn kém thời gian đối với chúng con. Cầu nguyện chỉ c̣n dành cho những ai đang phải đứng trước ngưỡng giới hạn của phận người hay khi đă hết cách, đă cùng đường.

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, có lẽ v́ chúng con chưa ư thức đủ t́nh trạng bế tắc của đời sống chúng con như bà goá nghèo nọ, nên chúng con cũng chưa đủ ḷng tin, ḷng kiên nhẫn trong lời cầu nguyện. Chúng con c̣n t́m nhiều đường lối khác để giải quyết đời ḿnh nên chưa hoàn toàn tin vào Chúa. Chúng con vẫn thích cậy dựa vào sức ḿnh hơn là vào ân sủng và phúc lành của Thiên Chúa. Để giúp mỗi người chúng con tỉnh thức nh́n lại mối tương quan của ḿnh với Thiên Chúa, Chúa đă nhắc nhở: “Khi Con Người ngự đến, liệu Người c̣n thấy ḷng tin trên mặt đất nữa chăng ?”

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, Chúa chính là Thầy dạy và là mẫu gương cầu nguyện của chúng con. Vào những giây phút quan trọng nhất trong cuộc đời : khi chịu phép rửa và nhận sứ mạng Chúa Cha trao phó, đêm trước khi chọn các môn đệ, trước khi biến h́nh, trước khi chữa lành người điếc, trước khi chịu thương khó, đang khi trên thập giá, … Chúa đă luôn hướng về Chúa Cha cầu nguyện. Trọn cuộc sống nơi trần gian của Chúa chỉ cốt sao cho kế hoạch của Chúa Cha được toàn thành, tuy rằng xem ra trái ngược với sự tính toán của người đời : “Xin đừng làm theo ư con, mà làm theo ư Cha” (Lc 22,42).

Lạy Chúa, lời Chúa dạy về việc cầu nguyện mới nghe qua thật đơn giản : “Cứ xin th́ sẽ được” (Lc 11,9). Tuy nhiên, phía sau công thức đơn giản ấy Chúa cũng dạy chúng con một cách sống : một cách sống đức tin, sống tinh thần siêu thoát, sống hoàn toàn tin tưởng và phó thác vào Thiên Chúa. Xin cho chúng con cảm nghiệm được sự cần thiết cũng như hiệu năng vô hạn của việc cầu nguyện, luôn biết chạy đến với Chúa trong mọi hoàn cảnh : dù hạnh phúc hay đau khổ. Xin cho chúng con luôn có một thái độ tín thác và kiên nhẫn trong cầu nguyện ; qua đó khiêm tốn đặt cuộc đời ḿnh vào bàn tay quan pḥng kỳ diệu của Thiên Chúa, v́ biết rằng, Thiên Chúa đầy ḷng yêu thương, Người luôn sẵn sàng trợ giúp tất cả những ai trung thành phụng sự Người trong mọi hoàn cảnh và nhu cầu của cuộc sống, v́ Người biết rơ điều ǵ là tốt nhất cho con cái ḿnh. Lạy Chúa, xin hăy làm cho chúng con những điều đẹp ư Chúa Cha. Amen.


Đỗ Lực op

Sức Mạnh Truyền Giáo
(Lc 18:1-8)

Nhà văn Nguyễn thị Minh Ngọc vừa xuất bản quyển tiểu thuyết "Kư sự người đàn bà bị chồng bỏ." Quyển sách đang xếp hạng các tác phẩm bán chạy nhất hiện nay. Minh Ngọc nói : "Ngày xưa, trong hát bội, màu đen, màu trắng, màu đỏ phân biệt rơ từng vai một, c̣n bây giờ, trong con người tổng hợp nhiều mặt xấu tốt, đôi khi người ta làm một chuyện, nhưng không phải v́ người ta có chủ đích muốn làm chuyện đó.” Trong vở kịch "Người hảo tâm thành Tứ Xuyên," Minh Ngọc đă mượn ẩn dụ các ông tiên đi xuống trần gian để t́m một người tốt, để nói lên rằng "không có người nào tốt" v́ "ngay đến người gánh nước thuê cũng dùng một cái thùng hai đáy." (1)

Lời Chúa hôm nay đưa ra h́nh ảnh một ông quan ṭa bất chính. Ông đă thử thách ḷng kiên nhẫn của bà góa. Nh́n vào ông, ai cũng thấy ngay khi làm việc tốt, ông cũng không v́ cái tốt trong ḷng ông. H́nh ảnh ông phản ngược với h́nh ảnh về Thiên Chúa. Phải có một cái nh́n sâu thẳm về Thiên Chúa, mới có thể hành động thiết thực và hữu hiệu trong hoàn cảnh xă hội hôm nay.

GẶP GỠ ĐỨC KITÔ

Con người không thể sống ngoài tầm nh́n của ḿnh. Nh́n làm sao sống như vậy. Đó là điều Chúa Giêsu muốn đề cập, không phải chỉ cho việc cầu nguyện nhưng c̣n cho chính cuộc sống và làm chứng nữa.

Thực tế, có nhiều người có cái nh́n lệch lạc về Thiên Chúa. Họ không thể đến với Thiên Chúa, chỉ v́ có quá nhiều bất công trong xă hội. Họ nh́n Thiên Chúa như ông quan ṭa hôm nay “chẳng coi ai ra ǵ,”(Lc 18:2) và cũng chẳng quan tâm tới con người. Bởi thế, những bất công mới hoành hành trong xă hội và tạo nên bao thảm cảnh. Điển h́nh, sau những tháng ngày chịu đựng bất công, bà góa đă đến thưa kiện để quan ṭa minh xét. Trong cả Cựu và Tân Ước, bà góa thường là nạn nhân của bất công. Bà đi t́m công lư đă bị những người đối phương phủ nhận (có lẽ một thân nhân của người chồng quá cố không muốn trả của hồi môn cho bà). Nhưng dù đại diện cho công lư ông quan ṭa đă từ chối giải quyết vấn đề cho bà. Cuối cùng, không phải v́ t́nh thương, nhưng để tránh những phiền toái, ông đành phải chấp nhận lời bà năn nỉ.

Tương quan giữa con người trở thành một thứ bất đắc dĩ hay miễn cưỡng. Nhưng Thiên Chúa khác hẳn. Người không phải là quan ṭa bất công hay bất lương. V́ người luôn “minh xét cho những kẻ Người tuyển chọn.” (Lc 18:6) Xét xử của Người dựa trên t́nh yêu, vừa công minh vừa mau mắn. Làm sao thấy được điều đó nơi Thiên Chúa ? Đó là vấn đề của đức tin. Không có đức tin, không thể kiên nhẫn và không thể thấy cách hành xử hợp t́nh hợp lư của Thiên Chúa. Im lặng không có nghĩa là không chú ư và không yêu thương. Im lặng chỉ có nghĩa là kiên nhẫn, v́ Thiên Chúa có thời gian của Người.

Nhờ đức tin, con người mới có thể kết hiệp sâu xa với Thiên Chúa trong lời cầu nguyện. Lời cầu nguyện diễn tả tất cả niềm tin, khơi dậy niềm hy vọng và làm cho đức ái đầy sức sống. Chính khi hiệp thông với Thiên Chúa, con người mới có thể có cái nh́n của Thiên Chúa và khám phá thấy tất cả kho tàng chân lư và t́nh yêu phong phú trong Lời Chúa.

Làm sao có thể trung thành với giáo huấn đức tin ? Làm thế nào lấy Lời Chúa làm kho tàng khôn ngoan ? Theo thánh Phaolô, cần t́m đến và rao giảng Lời Chúa không ngừng. Thánh Phaolô xác quyết với môn đệ : “Anh đă biết Sách Thánh, sách có thể dạy anh nên người khôn ngoan để được ơn cứu độ, nhờ ḷng tin vào Đức Kitô Giêsu.” (2 Tm 3:15) Rao giảng là gặp gỡ và đối thoại để chuyển giao sứ điệp về Nước Thiên Chúa cho mọi người. Rao giảng là khuyến khích người nghe gặp gỡ sứ điệp Nước Thiên Chúa. Hơn lúc nào, sứ điệp đó sẽ làm mọi người thức tỉnh trước những đối lực đang phá hoại sự sống nhân loại, đó là những cơ chế bất công.

Rao giảng Lời Chúa không dừng lại ở việc truyền đạt những kiến thức giáo lư, nhưng phải hành động để “Nước Cha trị đến.” Đúng như HĐGMVN nhận xét : “Một số nơi, giáo lư vẫn c̣n bị xem là những bài lư thuyết cần phải thuộc ḷng để được lănh bí tích. Việc giảng dạy chưa thực sự có phương pháp sư phạm phù hợp và chưa đi với chứng từ sống động của người rao truyền.” (2)

Nước Cha trị đến làm sao được, nếu người ta chỉ lo xây dựng đền đài và thu tích của cải và tiện nghi vật chất ? “V́ Nước Thiên Chúa không phải là chuyện ăn chuyện uống, nhưng là sự công chính, b́nh an và hoan lạc trong Thánh Thần,” (Rm 14:17) nên Giáo hội không thể rao giảng, nếu không dấn thân hoạt động cho con người và xă hội ngày càng công chính hơn. Đó mới đích thực là truyền giáo.

NƯỚC THIÊN CHÚA

Muốn dấn thân hoạt động cho công lư, chúng ta phải bắt đầu từ sự công chính của Nước Thiên Chúa. Những người lắng nghe Chúa Giêsu phải trực diện với một cái nh́n mới về thực tại đă khởi sự từ Nước Thiên Chúa, nơi các nạn nhân đ̣i hỏi quyền lợi và t́m công lư. Sự công chính của Thiên Chúa rất khác với con người. Thiên Chúa công chính đứng về phía người yếu thế và bị tổn thương. Thiên Chúa cứu nguy khi dân chúng kêu than ngày đêm. Lời cầu nguyện liên lỉ không chỉ là sự chờ đợi tiêu cực, nhưng là tích cực t́m kiếm công lư cho Nước Thiên Chúa. Thực thế, chỉ nhờ lời cầu nguyện, chúng ta mới có thể trung thành giữ vững đức tin và hoạt động cho công lư. Hơn bất cứ lúc nào, Giáo hội ngày nay phải sống bằng lời cầu nguyện. Chính v́ thế, trong ngày truyền giáo năm nay, ĐGH Bênêđictô 16 đặc biệt kêu gọi các ḍng kín cầu nguyện cho việc truyền giáo.

Trước khi tuyển chọn các môn đệ và sai đi truyền giáo, Chúa Giêsu đă cầu nguyện. Người đă từng lên núi, vào sa mạc, vô đền thờ cầu nguyện trước khi công bố Nước Trời và thiết lập Giáo hội để tranh đấu cho công lư. Đó là bản chất và sức mạnh của Giáo hội. Vậy mà không hiểu tại sao lại có nhận định : “Giáo hội không phải là cơ chế trực tiếp hoạt động cho công bằng xă hội. Nhưng cơ chế để thực hiện công việc bác ái từ thiện th́ Giáo hội phải có, v́ nó là dấu chỉ hữu h́nh cho T́nh yêu của Thiên Chúa mà Giáo hội muốn rao giảng và làm chứng.” (3) Nếu thế, cơ chế nào trực tiếp hoạt động cho công bằng xă hội ? Chẳng lẽ Giáo hội chỉ đưa ra những nguyên tắc cho người khác áp dụng, c̣n ḿnh một ngón tay không nhúng tay vào ?

Cũng như Chúa Giêsu, Giáo hội được sai đến trần gian để “công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức.” (Lc 4:18) Tất cả những người này đều là nạn nhân của cơ chế bất công. Nếu sứ mệnh Giáo hội không nhằm giải thoát muôn dân, các hoạt động của Giáo hội ở Phi Châu, Nam Mỹ, Đại Hàn đă đi ra ngoài đường lối của Chúa. Thực tế, chính v́ đă dấn thân tranh đấu cho công bằng xă hội, các Giáo hội đó đă tiến bộ vượt bực. C̣n GHVN đă đạt tới bước tiến nào so với các Giáo hội anh em, sau bao nhiêu thế hệ hoạt động không mỏi mệt v́ bác ái ?

Hơn nữa, nếu Giáo hội không phải là cơ chế trực tiếp hoạt động cho công bằng xă hội, tại sao ĐGH Phaolô 6 thiết lập thiết lập Ủy Ban Giáo Hoàng “Công lư và Ḥa B́nh,” để thể hiện ước vọng các nghị phụ công đồng Vatican II ? Các nghị phụ đă coi như một cơ hội rất lớn khi thiết lập Uỷ Ban này như một cơ chế của Giáo Hội hoàn vũ nhằm hoạt động để cả công lư và t́nh yêu Chúa Kitô đối với người nghèo được thăng tiến khắp nơi. Một cơ chế như thế có nhiệm vụ khuyến khích cộng đoàn Công giáo đẩy mạnh công cuộc tiến bộ nơi các miền nghèo đói và công b́nh xă hội trên khắp thế giới.” (4) Tiến bộ và công lư không thể hiện hữu nếu không có nhân quyền. Chính v́ thế, Giáo hội không ngừng cổ vơ và hoạt động để giành lại cho con người quyền làm người. Đó chính là bước đường theo Chúa Kitô. Đó cũng là con đường truyền giáo hữu hiệu nhất. Cả cuộc đời Chúa tóm gọn trong công cuộc hoạt động cho quyền làm người.

DẤN THÂN

Sau khi nêu cao sứ mệnh trả lại quyền làm người cho những người bị áp bức, giam cầm và nghèo khổ, Chúa Giêsu tuyên bố : “Hôm nay đă ứng nghiệm lời Kinh Thánh quư vị vừa nghe.”(Lc 4:21) Từ đó, Tin Mừng luôn có tính thời đại và thực tế. Tự bản chất, Tin Mừng là một tin. Tin tức không thể mang tính hôm qua hay ngày mai. Bởi thế, Tin Mừng luôn chuyển tải sứ điệp của Thiên Chúa cho người thời đại.

Những ǵ liên quan tới công lư là những vấn đề nóng bỏng trong xă hội Việt nam hôm nay. Thế nhưng những vấn đề sôi động đó đă không được đề cập đến trong Thư Chung của HĐGMVN năm 2007. Chủ đề là vấn đề giáo dục, chứ không phải công bằng xă hội. Đề tài xoay quanh “Xă hội và Giáo hội ngày mai,” chứ không phải hôm nay. Tất cả nhằm chuẩn bị cho ngày mai. C̣n ngày hôm nay không quan trọng. Rơ ràng có một sự né tránh v́ sợ hăi quyền lợi của Giáo hội bị giảm sút hay tước bỏ.

Ngay trong phần mở đầu lá thư chung, chỉ thấy các GMVN “bày tỏ niềm cảm thông và phân ưu sâu sắc đối với các thân nhân và nạn nhân vụ sập cầu Cần Thơ ngày 26-09-2007 và cơn băo số 5 (Lekima) ngày 02-10-2007.” (5) Thế c̣n những nạn nhân của cơ chế bất công và những anh em đang ngồi tù v́ tiếng nói lương tâm và v́ sứ mệnh cao cả, các ngài có công b́nh không ? Càng ngày càng thấy niềm tin và thực tế không đi đôi với nhau.

Trong lá thư chung đó, chỉ có một ghi nhận đáng kể về t́nh trạng Giáo Hội bị gạt ra ngoài cơ chế giáo dục hôm nay : “Nhưng cũng đáng tiếc là đối với các tổ chức tôn giáo tại Việt nam, cánh cửa giáo dục vẫn c̣n khép chặt : tôn giáo chỉ có quyền mở trường tư thục cấp mẫu giáo. Dù vẫn không ngừng nỗ lực làm tất cả những ǵ được phép để thể hiện sứ mệnh nhập thế, như mở lớp t́nh thương, lập quỹ học bổng cho học sinh nghèo hoặc khuyết tật, Giáo hội công giáo, với tư cách là tổ chức tôn giáo, đành phải đứng bên lề sự nghiệp giáo dục của xă hội Việt nam và, v́ không có quyền nhập cuộc, đành đóng vai một quan sát viên bất đắc dĩ.” (6)

Tóm lại, muốn thực thi sứ mệnh truyền giáo, Giáo hội cần kiên nhẫn lắng nghe tiếng Chúa và cầu nguyện không ngừng. Không có đức tin sâu xa, không thể thấy được t́nh yêu Thiên Chúa đối với nhân loại trong cuộc sống hôm nay. Nhưng cũng như ngày xưa, trước t́nh trạng quá nhút nhát của môn đệ, Chúa đă trấn an : “Thầy nói cho anh em là bạn hữu của Thầy được biết: Anh em đừng sợ những kẻ giết thân xác, mà sau đó không làm ǵ hơn được nữa.” (Lc 12:4) Có lẽ các môn đệ Chúa hôm nay quá nhát sợ kẻ chỉ giết thân xác, c̣n Đấng đă sai chúng ta đi, chúng ta không quan tâm. Nhát sợ là dấu chứng tỏ đức tin chưa nhập cuộc hay chưa hiện hữu thực sự. Nh́n vào t́nh trạng đó, người ta mới thấy Chúa có lư khi nói : “Khi Con Người ngự đến, liệu Người c̣n thấy ḷng tin trên mặt đất nữa chăng ? "(Lc 18:8)

Lạy Chúa, xin cho chúng con ngày càng tin tưởng mạnh mẽ và dấn thân hơn cho Nước Chúa. Amen.

đỗ lực - 21.10.2007

 

1. http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/story/2007/10/071008_minhngoc.shtml

2. Thư Chung 2007 của HĐGMVN, 15. http://www.conggiaovietnam.net/tulieugiaohoi/ thuchungHDGMVN2007.htm

3. Bùi văn Đọc, Xây dựng Xă Hội Công bằng theo Học Thuyết Xă Hội Công giáo. http://vietcatholic.net/News/Html/48222.htm

4. Gaudium et Spes, 90: AAS 58 (1966), 1112; trích lại từ Toát Yếu Học Thuyết Xă Hội của Giáo hội, 99.

5. Thư Chung 2007 của HĐGMVN, 1. Sđd

6. Ibid., 19.