![]() | |
Chúa Nhật XXXII Thường Niên - Năm C 2 Mcb 7:1-2.9-14 ; 2 Tx 2:16-3:5 ; Lc 20:27-38
An Phong op : Thiên Chúa của kẻ sống Fr. Jude Siciliano, op : Đối Với Chúa, Tất Cả Đều Đang Sống Fr. Jude Siciliano, op : Phục Sinh Và Thiên Đàng Giuse Nguyễn Cao Luật op : Thực Tại Mới Tương Quan Mới Giacôbê Phạm Văn Phượng op : Vấn đề sống lại Lm. Jude Siciliano, op : Thiên Chúa Là Đích Đến Của Chúng Con Giuse Vũ An Tôn op : Họ Là Con Cái Thiên Chúa, Con Cái Sự Sống Lại
Thiên
Chúa của kẻ sống
Niềm tin vào sự sống đời sau vừa là một khát vọng, vừa là một điều khó khăn đối với con người. Khát vọng v́ con người không cảm thấy bằng ḷng với cuộc sống này; không thể chấp nhận những bất công c̣n đầy dẫy mà cuộc sống này không bao giờ có thể giải quyết hoàn toàn; không thể chịu đựng được sự phi lư v́ những mất mát, chia ĺa của cuộc sống nhân loại phải đón nhận. Khó khăn v́ người ta dễ cảm thấy chắc tâm khi đạt được những thành công, t́m thấy những bảo đảm cho cuộc sống này để ḿnh được sung sướng; hơn là "thả mồi bắt bóng" ở thế giới nào khác. Những người Sađốc là những người muốn an tâm với những sung sướng rơ ràng như thế; vua Antioco và quần thần của vua th́ tưởng ai cũng như thế, nên lấy những h́nh phạt thể xác để đe dọa các tín hữu.
Niềm tin của người kitô hữu không
phải là khinh chê cuộc sống này để "thả mồi bắt bóng", nhưng luôn qui chiếu
đời sống của ḿnh vào ngày Thiên Chúa hoàn thành chương tŕnh cứu độ; khi đó
Ngài "trả lại" những mất mát, Ngài hoàn thành những khát vọng, Ngài nối lại
những chia ĺa, Ngài biến đổi những giới hạn nên một "trời mới đất mới". Thiên Chúa là Chúa của kẻ sống, xác tín điều đó giúp cho người kitô hữu vượt qua ḷng ích kỷ, thắng được sự nhát đảm và cảm nhận được giá trị của niềm vui đích thực, niềm vui "là con cái Thiên Chúa, bởi đă được sống lại". Tâm t́nh hiệp lễ
Vầng đông dậy, ánh hồng gieo rắc
Ấy Vua Cả oai phong lẫm liệt
Đă im bặt câu than tiếng khóc,
Xin cho mọi ḷng thành hoan hỉ
Muôn lạy Chúa Giêsu từ ái Thánh Thi Phục Sinh
SỐNG Càng bị đe dọa, sự sống càng vùng dậy mănh liệt. Cái chết là một đe dọa lớn nhất và ghê sợ nhất. Muốn vươn đạt tới sự sống vĩnh hằng, con người phải có một sức mạnh hơn tử thần. Hôm nay, Đức Giêsu dẫn ta tới một cuộc sống trên cơi thiên thần. HAI CUỘC SỐNG. Cuộc sống rất tương đối. Sự sống thật hữu hạn. Thế nhưng niềm tin mở ra một chân trời mới. Thế giới đang tiến về một đỉnh cao dành cho "những ai được xét là đáng hưởng phúc đời sau và sống lại từ cơi chết" (Lc 20:35) Sống trong thế giới đó, con người không c̣n bị lệ thuộc vào những điều kiện vật chất hữu hạn nữa. Tất cả đều "là con cái Thiên Chúa, v́ là con cái sự sống lại." (Lc 20:36) Một cuộc lột xác hoàn toàn sẽ đem lại cho nhân loại một sự sống mới chưa từng thấy. Sự sống bắt nguồn từ chính Thiên Chúa. Bởi vậy, sự sống không thể thua sự chết, không thể bị tắc nghẽn v́ những giới hạn tử thần. "Hỡi tử thần, đâu là nọc độc của ngươi ? Tạ ơn Thiên Chúa, v́ Người đă cho chúng ta chiến thắng nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta." (1 Cr 15:56-57) Nếu không có Đức Giêsu, chắc chắn tất cả nhân loại sẽ bị tử thần khuất phục. Đó là điều sỉ nhục đối với Thiên Chúa. Nhưng Đức Giêsu đă phục sinh để chứng minh Thiên Chúa "không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống, v́ đối với Người, tất cả đều đang sống" (Lc 20:38) nhờ máu Đức Giêsu đổ ra trên thập giá. Chính niềm xác tín vào sự sống như thế đă cho ta có quyền hi vọng vào chiến thắng cuối cùng của Thiên Chúa, Đấng "đă dùng ân sủng mà ban cho chúng ta niềm an ủi bất diệt và niềm cậy trông tốt đẹp." (2 Tx 2:16) Nếu chỉ nh́n theo nhăn quan trần thế, không thể nào có được niềm an ủi và cậy trông đó. Nhóm Xađốc đă dựa trên hiện tại để củng cố "chủ trương không có sự sống lại." (Lc 20:27) Họ hoàn toàn căn cứ vào tương quan hôn nhân để phi bác cả một thế giới thiêng liêng, nơi con người "không thể chết nữa, v́ được ngang hàng với thiên thần." (Lc 20:35) Chỉ trong cuộc sinh tồn đắp đổi này, con người mới cần đến hôn nhân để duy tŕ cuộc sống. C̣n trong cơi vĩnh hằng, tại sao cần phải duy tŕ sự sống bằng những phương tiện của thế giới vật chất nữa ? Hai thế giới khác nhau không thể dựa trên cùng một nền tảng. Lập luận của nhóm Xađốc hoàn toàn nằm ngoài qui luật thiên giới. Họ không thể vượt ra ngoài cơi tục để thấy được cuộc sống của con cái Thiên Chúa, v́ họ không phải là con cái sự sống lại. Cuộc sống đó thật là mầu nhiệm và siêu việt, nhưng lại rất thực tiễn v́ đáp ứng được niềm ước vọng bất tử của nhân loại và vào chính sự phục sinh của Đức Giêsu. Thật vậy, "nếu kẻ chết không sống lại, th́ Đức Kitô đă không chỗi dậy. Mà nếu Đức Kitô đă không chỗi dậy, th́ ḷng tin của anh em thật hăo huyền, và anh em vẫn c̣n sống trong tội lỗi của anh em." (1 Cr 15:13.16) Nếu niềm tin chúng ta hoàn toàn hăo huyền, làm sao Kitô giáo lại có thể đem lại cho nhân loại một nền văn minh tốt đẹp như vậy ? Thực tế, nhân loại đă được giải thoát khỏi xích xiềng tội lỗi nhờ cuộc phục sinh của Đức Giêsu. Bởi thế, không thể không có sự sống lại. Đó là niềm tin căn bản nhất và vững chắc nhất, chi phối toàn thể cuộc sống Kitô hữu. Niềm tin đó đă bắt nguồn rất sâu xa trong Kinh thánh. Quả thế, "hồi ấy, có bảy anh em bị bắt cùng với bà mẹ" (2 Mcb 7:1) dưới thời vua Antiôkhô. Họ đă có tất cả sức mạnh chiến thắng tử thần nhờ "dựa vào lời Thiên Chúa hứa mà hi vọng sẽ được Người cho sống lại." (2 Mcb 7:14) Bao nhiêu cực h́nh đă không chiến thắng nổi niềm tin vững chắc và đầy quả cảm đó. Nếu "luật pháp của cha ông" (2 Mcb 7:8) đă khiến cho họ có sức mạnh lớn lao đến thế, th́ "Đấng đă làm cho Đức Giêsu sống lại từ cơi chết cũng sẽ dùng Thần Khí của Người đang ngự trong anh em, mà làm cho thân xác của anh em được sự sống mới." (Rm 8:11) Thế nên, niềm tin vào sự sống lại được chính Ba Ngôi bảo đảm. Niềm tin đó đang trổ sinh những mùa màng tươi tốt trên toàn thế giới. Như vậy Đức Giêsu đă dùng một lập luận vững chắc để phi bác niềm tin của phai Xađốc. Lập luận đó căn cứ trên thực tế cuộc sống thiên thần và qui chiếu vào Kinh thánh. Chính thực tại lớn lao là "Thiên Chúa của kẻ sống" đă đủ mạnh để áp đảo tất cả những lập luận bênh vực cho sự chết. Đối với Thiên Chúa, không có vấn đề chết. V́ tất cả đă được Đức Kitô trả lại sự sống mới bắt nguồn từ Thiên Chúa. MỞ RỘNG TẦM NH̀N. Không có sự sống mới đó, cuộc sống hiện tại sẽ trở thành nhàm chán và vô nghĩa. Nói khác sự sống lại không phải là sự nối tiếp cuộc sống hiện tại. Bởi vậy vấn đề các người Xađốc đặt ra hoàn toàn "trật dơ". Sự sống lại khác tự bản chất, v́ con người sẽ "ngang hàng với các thiên thần." (Lc 20:36) Không có niềm hi vọng sống lại, không thể đủ nghị lực và phấn khởi vượt qua những thách đố phi lư của cuộc sống hiện tại. Trái lại, sự sống lại là động cơ thúc đẩy con người vươn tới những mục tiêu siêu việt. Không mở rộng tầm nh́n, không thể thấy được tất cả ư nghĩa sự sống lại đem lại cho sự sống hôm nay. Sự sống hôm nay đang dẫn tới cái chết. Đó là một sự phi lư hoàn toàn. Nhưng sự sống lại giúp con người hiểu được tại sao ḿnh sống và đang đi về đâu. Sự sống lại sẽ dẫn con người tới một sự thật : Thiên Chúa là "Thiên Chúa của kẻ sống, v́ đối với Người, tất cả đều đang sống." (Lc 20:38) Nghĩa là, đối với các tín hữu, không ǵ, kể cả cái chết, có thể làm họ thất vọng. Những người không có niềm tin vào "Thiên Chúa của kẻ sống", chỉ thích chọn giải pháp dễ dăi của tử thần. Chẳng hạn, những người chủ trương cho chết êm dịu, phá thai, triệt sản, khủng bố v.v hoàn toàn đóng khung tầm nh́n vào những giới hạn trần giới. Bởi đấy, cần phải mở rộng tầm nh́n vào cơi sống của "con cái sự sống lại" để t́m một giải pháp toàn diện cho những bế tắc hôm nay. Nhưng đừng để bị những kẻ mơ mộng đánh lừa. Họ có thể nhân danh sự sống đời sau để đẩy con người vào cơi chết. Những kẻ khủng bố 11/9/2001 vừa qua cũng tin vào sự sống bất diệt nơi Thiên Chúa. Nhưng họ đă tạo ra bao đau thương cho chính ḿnh và nhân loại. Có một sự mâu thuẫn giữa cuộc sống hiện tại và tương lai trong niềm tin của họ. Mặc dù có sự khác biệt sâu xa, nhưng niềm tin vào cơi bất tử không thể là một lối thoát cho những người tuyệt vọng như vậy. Bởi đấy niềm tin vào sự sống lại chỉ chính đáng khi đem lại cho con người sức mạnh xây dựng cuộc sống hiện tại tốt đẹp hơn. Niềm tin đó đang là điểm tựa cho nhiều người trong cuộc chiến chống lại tử thần. Đó là lư do tại sao Kitô hữu không ngừng vận dụng mọi nỗ lực xây dựng nền văn minh sự sống, chống lại nền văn minh sự chết. Từ nay nhờ Đức Giêsu, trong văn minh sự sống Kitô hữu có thể đem lại niềm hi vọng lớn lao cho nhân loại. Tất cả đều "dựa vào lời Thiên Chúa hứa mà hy vọng sẽ được Người cho sống lại." (2 Mcb 7:14) Lời hứa đó thực sự đă được thực hiện trên thập giá Đức Giêsu. Chính Người "là sự sống lại và là sự sống" (Ga 11:25) của chúng ta. Không có Người, tất cả sẽ trở thành vô nghĩa và vô giá trị, v́ tất cả bị thần chết tiêu diệt. Nhưng nếu muốn thoát ách tử thần, Kitô hữu phải "đồng h́nh đồng dạng với Người trong cái chết của Người, với hi vọng có ngày cũng được sống lại từ trong cơi chết." (Pl 3:10) Thập giá là con đường dẫn tới sự sống và sự sống lại trong Đức Giêsu Kitô.
ĐỐI VỚI THIÊN CHÚA, TẤT CẢ
ĐỀU ĐANG SỐNG Thưa quư vị. Chúng ta cảm thấy năm phụng vụ C đă gần kết thúc, vấn đề tương lai sẽ ra sao được đưa ra cho chúng ta suy gẫm trong ba tuần tới. Tuần này là về sự sống lại. Nội dung của nó không phải là thế gian sẽ kết thúc thế nào và bao giờ, nhưng tương lai nhân loại ra sao sau khi thời gian chấm dứt, cuộc sống loài người hoàn thành sứ vụ ? Cả hai bài đọc 1 và 3 đều đề cập đến sự kiện sống lại. Bài đọc 1 về cuộc tử nạn của 7 anh em nhà Macabê dưới thời vua Antiôkhô. Bài đọc 3 về một người người phụ nữ qua bảy đời chồng mà không có con, cuối cùng khi sống lại bà là vợ của ai? Câu chuyện đặt trước mắt tín hữu nội dung quan trọng về Đức tin. Liệu cuộc đời này sẽ chấm dứt vĩnh viễn hay sự liên kết giữa chúng ta với Thiên Chúa sẽ muôn năm tồn tại, bất chấp cái chết và thế giới qua đi? Thực tế chúng ta biết rằng, cuộc sống của mỗi cá nhân trên dương gian không kéo dài măi măi, thần chết đánh bại mọi người! Nhưng người Công giáo tin rằng Thiên Chúa không bao giờ bỏ rơi ḿnh. Ngược lại, Ngài luôn liên kết chúng ta với sự sống vĩnh cửu của ḿnh, ngay cả khi thân xác qua đi trong cái chết. Kinh thánh liên tục mạc khải chân lư này. Mối tương giao bền chặt giữa mỗi linh hồn và Thượng đế luôn được Kinh thánh nhắc lại, nó chẳng bao giờ bị bẻ gẫy, dầu là do sức mạnh khủng khiếp của hoả ngục và tử thần. Đó là lư do Hội thánh luôn thúc giục các tín hữu tin vào bằng chứng của Kinh thánh chứ không phải của khoa học. Thiên Chúa không phải của kẻ chết mà là của người sống. Trước mặt Thiên Chúa tất cả đều đang sống. Khoa học th́ chứng minh ngược lại. Để nuôi dưỡng Đức tin và để kích thích tưởng tượng của các tín hữu, Thánh kinh đă đưa ra nhiều h́nh ảnh về cuộc sống vĩnh cửu mượn từ các biểu tượng đời này. Ví dụ: Nước hằng sống, Bánh trường sinh, tái sinh, thuộc vương quốc của Thiên Chúa... Dĩ nhiên, chúng chỉ là h́nh ảnh hoặc ẩn dụ để mô tả một thực tại siêu việt, không thể diễn tả bằng ngôn ngữ loài người. Hiện nay chúng ta đă lănh nhận trong linh hồn thực tại ấy và vẫn kéo dài măi, một khi cuộc đời dương thế chấm dứt. Nhưng ngôn ngữ chỉ là ư niệm chung chung, tổng quát chứ không phải là các chi tiết chính xác. Bởi lẽ chưa ai có kinh nghiệm, ngôn ngữ loài người bất lực trước những sự thật vô h́nh. Bà thánh Bernadette Soubirous khi nh́n thấy Đức Mẹ Vô Nhiễm ở bang Massabielle (Lộ Đức) đă kinh nghiệm sự bất lực này, cô bé mơ ước được sống trong cơi vô biên với bà lạ, nhưng không làm thế nào diễn tả nổi. Người ta coi cô bé 14 tuổi mắc bệnh loạn trí, ngày nay gọi là bệnh tâm thần và đă đề nghị nhốt cô vào nhà thương điên! V́ vậy ẩn dụ chỉ là h́nh thức rất nghèo nàn để mô tả đời sống vĩnh cửu mà chúng ta đă lănh nhận khi chịu phép rửa tội. Thế nhưng đối với con mắt trần xác thịt, th́ đă rơ ràng lắm rồi. Họ cố gắng dùng những h́nh ảnh mượn từ cuộc sống hay từ óc tưởng tượng lấp đầy chỗ trống và vẽ lên cảnh tượng nào đó trong đầu óc. Ví dụ: Đền bằng vàng, cửa dát ngọc, lối đi trải nệm đỏ, thiên thần có cánh, đàn ca vô tận... Tuy nhiên, những cảnh tượng ấy về căn bản vẫn là cuộc sống dương gian dù rằng được dùng để miêu tả thiên cung thần tiên. Sự thực th́ phải nói chúng ta chẳng hề biết ǵ cả. Bà thánh Bernadette đă phải vượt một quăng đường dài từ t́nh trạng ngất trí đến khi tỉnh dậy về cơi dương gian. Những người Sađucêo trong Phúc âm hôm nay lầm lớn khi dùng một nghi vấn giả lấy từ cuộc sống dương gian để minh chứng tính nghịch lư của sự sống lại, một thực tại siêu nhiên. Theo họ cuộc sống mai sau chỉ là một cuộc du hành liên tục của cuộc đời hiện tại. Bảy người chồng kế tiếp nhau của một người phụ nữ sẽ ở cùng mặt bằng thời gian, vậy th́ cuối cùng cô ta sẽ là vợ của ai? Thực chất người Saducêo không tin có đời sau, không tin có thiên thần và sự phục sinh, cho nên đối với họ câu hỏi thật thâm độc, trả lời kiểu nào cũng vô lư, nực cười. Các tín hữu thường xuyên suy tư về vấn đề này, bởi v́ đối với họ kẻ chết sống lại là quan trọng. Họ không thể tưởng tượng tổ tiên ḿnh, những người đă khuất, không c̣n tồn tại. Hằng ngày họ vẫn cầu nguyện cho các kẻ thương yêu đă qua đời, sống chung trong kư ức với họ, cho nên khó mà tách rời kẻ sống người chết ra khỏi trí óc các tín hữu. Hơn nữa họ hằng tin tưởng các kẻ đă chết luôn được Chúa thương yêu ban cho một kiếp sống bất tận, không bệnh tật, khổ đau, không nghèo đói, thiếu thốn. Ngược lại hạnh phúc và b́nh an. Đối với mỗi cá nhân chúng ta cũng vậy, chúng ta khao khát được sống măi, sống bất tận và đến thời điểm phải ra đi chúng ta cũng hy vọng sẽ sống lại. Như vậy phục sinh để sống cuộc đời mới, đáp ứng khát vọng căn bản của mỗi linh hồn tin kính. Tuy nhiên, phái Sađucêo không than khóc thân nhân qua đời, không t́m kiếm niếm tin sống lại khi họ đặt câu hỏi với Chúa Giêsu. Quan niệm của họ rơ ràng và bất định; không bao giờ có chuyện kẻ chết sống lại. Họ thuộc tầng lớp trí thức trong xă hội, cộng tác với người La Mă và là tư tế. Rất nhiều thành viên của đảng phái này giàu có và nhiều ảnh hưởng. Họ đặt niềm tin tôn giáo của ḿnh trên 5 cuốn sách đầu của Kinh thánh Do thái, tức sách lề luật của ông Môsê viết ra. Theo như những cuốn sách này th́ không có sống lại, bởi Môsê không hề nói chi về chuyện đó. Cho nên niềm tin cốt cán của đạo không bao gồm sự kiện kẻ chết sống lại. Thêm thắt vào là bịa đặt, chỉ những kẻ ít học thức mới chấp nhận hoang đường. Trái lại, nhóm Biệt phái và tầng lớp b́nh dân không những công nhận 5 cuốn sách của Môsê và c̣n lời dạy truyền khẩu và các văn bản khác nữa, trong đó có vấn đề kẻ chết sống lại. Thánh Luca đă kể việc tranh luận giữa hai bên trong Công vụ Tông đồ (23,6-10). Và thánh Phaolô đă lợi dụng sự mâu thuẫn này mà thoát nạn. Hôm nay người Sađucêo lại mang câu chuyện ra gài bẫy Chúa Giêsu. Họ lật ngược câu chuyện 7 anh em nhà Macabê thành 7 người chồng của một người phụ nữ và áp dụng sách Đệ nhị luật (25,1-10) để chế giễu những ai tin vào sự sống lại. Họ cho niềm tin đó là hoang đường. Chắc hẳn quư vị đă cảm thấy Đức Kitô thất vọng biết bao khi nghe họ đưa vấn đề ra bàn luận. Bởi Ngài là Thiên Chúa, biết rơ sự thật, c̣n phái Sađucêô đóng kín, sai lầm và chẳng tỏ dấu chi cởi mở cho chân lư thấm nhuần. Dầu sao Ngài trả lời họ trong ngôn ngữ họ có thể hiểu được. Tức là đừng dùng lư luận và biểu tượng đời này mà xây dựng thực tế đời sau, một thực tế chưa ai từng kinh nghiệm. Người Sađucêô đă ngây thơ dùng luật Lêvi trong sách Đệ nhị luật 25,5-10, nói rằng nếu một người đàn ông có vợ mà chết không con, th́ người anh em kế tiếp phải kết hôn với người đàn bà góa đó để duy tŕ gịng giống và tài sản cho anh ḿnh. Phái Sađucêô đưa ra tới 7 anh em cùng kết hôn với một phụ nữ, rồi cuối cùng người phụ nữ cũng chết, th́ khi sống lại, cô là vợ của ai ? Như vậy, sự sống lại là điều không thể xảy ra (tôi không hiểu trong cộng đoàn chúng ta, chị em nghĩ sao ? V́ theo ư kiến các Sađucêô, chị em không có quyền làm người, bị truyền từ tay đàn ông này tới tay đàn ông khác như thể một tài sản !). Câu trả lời của Chúa Giêsu làm cho người nghe ngạc nhiên. Theo Ngài (và đây là một mặc khải quan trọng cho nhân loại), có sự khác biệt căn bản giữa cuộc sống đời này và mai sau. Hiện thời kết hôn và sinh sản là điều quan trọng để gịng sông sự sống tiếp tục chảy. Nhưng đối với những ai được xét là xứng đáng hưởng hạnh phúc đời đời, th́ mọi sự khác hẳn : Người ta không chết nữa, không cần lo lắng cho tương lai, chẳng phải thu tích tài sản để người khác hưởng dùng. Sự chết không làm chủ được ai nữa, mọi người sẽ giống như thiên thần. Việc sinh sản là điều thừa thăi bởi sự sống tồn tại muôn đời, v́ được chia sẻ sự sống vĩnh viễn của Thiên Chúa. Ngài đă kư giao ước với nhân loại th́ giao ước ấy muôn thuở, không thể bị bẻ găy. Cho dù cuộc sống mai hậu hoàn toàn khác với hiện nay, nhưng mối ràng buộc trong giao ước sẽ tồn tại măi, bởi ḷng tín trung của Thiên Chúa. Ngài không thể mâu thuẫn với chính ḿnh làm tiêu tan giao ước. Đó là nội dung của sự sống lại. Nó không tuỳ thuộc vào công nghiệp nhân loại. Nhưng chủ yếu vào ḷng trung tín muôn thuở của Thượng đế. Ngài hứa cuộc sống vĩnh viễn cho những tôi tớ ḿnh, th́ nhất định việc đó phải xảy ra. Cho nên tôi nghĩ nội dung chính của bài Tin Mừng hôm nay là lời mời gọi tin tưởng vào mặc khải của Chúa Giêsu : Thiên Chúa không phải là Thiên Chúa của kẻ chết mà là của người sống, v́ đối với Người tất cả đều sống, kể cả những Tổ phụ đă khuất bóng của dân tộc Do thái, Abraham, Isaac, Giacóp, Giuse, và mọi người đă yên nghỉ từ tạo thiên lập địa cho đến tận thế. Chúng ta tin vào giao ước nhiều lần Thiên Chúa đă kư với nhân loại. Thiên Chúa yêu thương, qua Đức Giêsu, hằng săn sóc, ǵn giữ chúng ta đời này và muôn thuở đời sau. Nhưng vấn đề là, về phần ḿnh, ḷng tin vào sự sống lại và sự sống muôn đời, ảnh hưởng trên nếp sống hằng ngày của chúng ta ra sao ? Nhiều người tuyên xưng ḷng tin của ḿnh, nhưng thực chất thái độ và suy nghĩ của họ giống như người Sađốc, chạy theo tiền tài, danh vọng, địa vị, chức quyền, tất cả những tiện nghi sung sướng thoải mái mà thế gian có thể cung cấp. Họ sống như chẳng có đời sau, hoặc đời sau chỉ là cái bóng mờ. Ngược hẳn với gương lành của 7 anh em nhà Macabê. 7 Người này đă sẵn sàng chịu đựng khổ h́nh và cái chết để trung thành với Đức Chúa Trời. Không chi có khả năng chia rẽ họ khỏi ḷng yêu mến Thiên Chúa. Người thứ tư nói như sau : "Chúng tôi thà chết v́ tay người đời, đang khi dựa vào lời Thiên Chúa hứa mà hy vọng được Người cho sống lại. C̣n nhà vua, vua sẽ không được sống lại, để hưởng sự sống đâu." Như vậy, niềm hy vọng sống lại ban ư nghĩa cho cuộc đời hiện tại của chúng ta và củng cố ḷng tin các tín hữu khi gặp gian nan thử thách. Bà mẹ 7 anh em Macabê đă vững tin vào t́nh yêu bất tử của Thiên Chúa và dùng lời can đảm an ủi các con đứng vững trong t́nh yêu này. Như vậy, với lăng kính phục sinh, chúng ta dễ dàng phân định giá trị của thế giới, đâu là những điều thế gian t́m kiếm, ước ao và quư trọng, đâu là những chân lư người tín hữu phải theo đuổi. Nhờ ơn Chúa soi sáng, qua mặc khải phục sinh, chúng ta sẽ nh́n thế gian và những của cải đời này từ một góc độ khác, tức từ viễn tượng đời đời. Viễn tượng này dạy người tín hữu nên đầu tư tiền tài, sức lực, trí khôn, tài năng vào đâu cho hợp lư và bảo đảm tương lai vững bền. Chúng ta chỉ đi qua cuộc đời một lần mà thôi. Nếu đầu tư sai, mọi sự đều hỏng cả, tương lai kể như không có, cuộc sống hiện tại kể như vất bỏ. Do đó, bài học từ Phúc âm hôm nay rất quan trọng : Tôi đă tiêu phí tiền tài, thời gian, trí tuệ, năng khiếu, sức lực, vào việc chi ? T́m kiếm ơn Chúa ? Bảo tŕ giao ước với Ngài hay chơi bời trác táng như người con phung phí ? Chúa Giêsu đă chỉ rơ nội dung khác nhau giữa cuộc đời hiện tại và kiếp sống mai hậu, không c̣n thắc mắc nghi ngờ. Những lựa chọn, những ưu tiên của chúng ta ngày nay chắc hẳn sẽ ảnh hưởng quyết định đến số phận tương lai của ḿnh. Tương lai ấy mở rộng nếu chúng ta nghe theo lời Chúa khuyên nhủ, bằng không nó khép lại. Vậy chúng ta nên làm ǵ lúc này ? Nữ hoàng "Lạc quan" sẽ cho chúng ta câu trả lời. Nàng sẽ ban khả năng cho mỗi người, đầu tư chính ḿnh vào những chương tŕnh to lớn. Chương tŕnh có lẽ cả đời chúng ta không thực hiện hết. Nhưng chẳng hệ ǵ, đă có những người thuộc tương lai tiếp tục. Khi tham gia thực hiện nó, chúng ta sẽ bày tỏ niềm hy vọng sống lại và dấn thân trong đường lối của Đức Chúa Trời : Các dự án đó rất nhiều và cụ thể. Thí dụ : Hoạt động cho công b́nh bác ái, hoà b́nh công lư, chấm dứt đói nghèo, b́nh đẳng màu da, giới tính, chống x́ ke, ma tuư, áp bức, bóc lột, khủng bố, chiến tranh, chia rẽ, loại trừ, tẩy chay. Đúng là những dự án lớn đ̣i hỏi nhiều nghị lực, kiên nhẫn, tiền tài, năng khiếu và ơn Chúa trợ giúp. Chúng chính là dự án thuộc Nước Trời và sẽ được thực hiện bởi những thế hệ con người đầy ḷng hy vọng sống lại. B. Pascal đă cống hiến cho các tín hữu một tư tưởng hay, ông gọi là "cuộc đánh cược lớn". Lư luận như sau : Tin vào sự sống lại, bạn chẳng thua thiệt ǵ. Nếu sau cái chết, có đời sau, lúc ấy bạn đâu phải thất vọng, ngược lại , được lời to. Trường hợp không đó đời sau, bạn cũng không thất vọng bởi v́ bạn có sống đâu mà kinh nghiệm thất vọng. Nhưng Chúa Giêsu đến thế gian không phải để xác nhận Pascal đúng hay sai. Ngài đến để công bố Tin Mừng. Tin Mừng là thế này : "Lạy Cha, Con xin phó thác linh hồn con trong tay cha". (Lc 23,46). Rơ ràng Ngài đặt trọn vẹn linh hồn, thân xác, thần trí, sức lực của Ngài trong tay Đức Chúa Trời cao cả, là người Cha, Đấng sẽ làm cho kẻ chết sống lại bởi Ngài là Thiên Chúa của người sống chứ không phải của kẻ chết, đối với Cha Ngài, tất cả đều đang sống. Amen.
Phục Sinh
Và Thiên Đàng Thưa quư vị. "Thiên đàng" hai tiếng thật hấp dẫn, nhưng cũng thật mơ hồ. Người Saducêo đă lợi dụng tính chất đó để gài bẫy Chúa Giêsu trong bài Tin mừng hôm nay. Họ không tin vào sự sống lại, vào thiên đàng ở kiếp sau, cho nên câu hỏi của họ chỉ nhằm một mục đích duy nhất là làm cho Chúa Giêsu "cứng họng". Họ không hề thành thực nghe câu giải đáp hữu lư. C̣n chúng ta, các tín hữu cũng có những thắc mắc về thiên đàng, về chỗ ở mai hậu : chắc chắn mỗi người, mỗi gia đ́nh, mỗi ḍng họ đă có rất nhiều người khuất bóng và đau xót v́ những cuộc chia ly vĩnh viễn đó. Bây giờ họ ở đâu ? Có được khỏe mạnh an toàn không? khi bà nội, bà ngoại qua đời, con cháu hỏi bà đi đâu ? Chúng ta thường tin tưởng trả lời : bà lên thiên đàng gặp ông rồi, và chúng nó tin đúng như vậy. Chúng ta cũng thường khuyến dụ con cháu ăn ở ngay lành để một mai được lên Thiên đàng. Những lời đó là lời nói dối ? Không ai dám trả lời như thế. Vậy th́ Thiên đàng là điều có thật, nơi Thiên Chúa đang cùng chung sống với các thánh, các thiên thần. Cộng đoàn các tín hữu khắp trái đất đều tuyên dương "các thánh" là những biểu tượng đầy ư nghĩa của nhân loại. Họ là những gương mẫu mà mọi người có thể đạt tới để được hạnh phúc, ngày nào đó chúng ta sẽ cùng chung sống với họ, vui hưởng t́nh bạn bè. Ngay cả trong ư nghĩ và ngôn ngữ hàng ngày chúng ta cũng thường nhắc tới hạnh phúc Thiên đàng. Khi được vui mừng thực sự chúng ta thường buột miệng b́nh luận : "giống như Thiên đàng trên trái đất". " Bữa ăn hôm nay làm sao ?" "Chà, tuyệt hảo như thiên cung, chẳng có chi ngon hơn được nữa". Đó là tổng hợp những ǵ chúng ta suy nghĩ về Thiên đàng. Đó là nơi hoàn hảo nhất, không khuyết điểm, không buồn rầu, hạnh phúc vô biên. Chúng ta vào nhà thờ nh́n lên các cửa sổ h́nh màu, mô tả Thiên Chúa đứng giữa các thần thánh, hàng hàng lớp lớp các vị thánh Cựu Ước, Tân Ước, chúng ta bị choáng ngợp bởi tư tưởng tuyệt hảo, sáng ngời, không vết mờ tối sự dữ, đó là Thiên đàng! Vậy th́ tư tưởng về Thiên đàng giữ vị trí tối quan trọng trong trí tưởng tượng và h́nh vẽ tôn giáo của chúng ta. và chúng ta nghĩ rằng trong Kinh Thánh cũng có rất nhiều đoạn mô tả sự sống lại của loài người trên Thiên đàng. Dĩ nhiên có những dụ ngôn về nước trời nhưng những dụ ngôn đó liên quan đến đời này hơn là đời sau. Cũng thật lạ lùng Kinh Thánh không có nhiều chi tiết về cuộc sống của chúng ta sau khi chết. Các giải thích truyền thống về Thiên đàng chẳng có bao nhiêu, chẳng giúp ích ǵ được nhiều. Thần học cho chúng ta những danh từ "tĩnh", chẳng hạn : "Thị kiến hạnh phúc" (beatific vision). Tôi phải thú thật khi nghe tiếng này trong lớp giáo lư, tôi thấy mơ hồ và buồn chán, hoàn toàn thiếu tính năng động và sức sống, vĩnh cửu nhất điệu. V́ vậy, câu hỏi của các người Saducêo trong Tin mừnghôm nay kích thích trí tưởng tượng của chúng ta. Vâng, thưa Chúa Giêsu, đời sống khi phục sinh ra sao ? Liệu có giống bây giờ ? Liệu chúng con có những cuộc vui nữa không ? Liệu chúng con hát hay hơn không ? Luôn luôn đúng giọng chứ không phải vịt đực khàn tiếng ? Liệu chúng con chạy nhanh hơn không ? Luôn luôn vượt kỷ lục ? Liệu chúng con có được nói đùa, pha tṛ và những trận cười bể bụng ? Liệu chúng con có được mẹ cho ăn món sốt cà chua tuyệt vời hay món nui vĩnh cửu của ngày Chúa nhật ? Đó thực sự là Thiên đàng (That would really be heaven !) nếu chúng con khuyết tật bây giờ, liệu sau khi sống lại chân tay có được lành lặn không ? Và cũng giống như câu hỏi của người Saducêo, liệu chúng con chết vợ, chết chồng rồi tại giá và yêu thương cả hai, khi sống lại ai là vợ, là chồng chính thức ? Nếu một người đàn bà lỡ kết hôn với một tay bợm nhậu, khi sống lại bà ta c̣n phải ở với hắn nữa không ? Hay được quyền chọn chồng khác ? Người Saducêo không tin vào sự phục sinh. Họ chỉ nhận năm cuốn sách đầu của Cựu Ước làm quy điển đức tin. Trong các sách này không dạy về sự sống lại. Vấn đề c̣n đang tranh căi, cho nên họ không tin. Nghi vấn họ đặt cho Chúa Giêsu là để tỏ lộ rằng phục sinh là điều nghịch lư, và Chúa Giêsu trả lời thế nào đi nữa, thiên hạ cũng chẳng thể nghe được. Tuy nhiên, Chúa Giêsu rất nhân từ, Ngài coi vấn nạn của họ là nghiêm trọng. Ngài nói : cuộc sống mai hậu, về căn bản, khác hẳn cuộc sống đời này. Rút các kết luận từ cuộc sống đời này hoặc mở rộng các ư niệm của cuộc sống hiện thời cho cuộc sống phục sinh là trật lất. Đây không phải là lư luận đúng hướng. Nó phiếm diện và vô dụng. Trong năo trạng Do thái thời sơ khai trước khi ư niệm về phục sinh được phát triển, th́ cuộc sống đời này là căn bản. Hôn nhân, con cái, là phương tiện duy nhất để vĩnh cửu hóa ḍng giống. Đời sống của cha mẹ được tiếp tục nơi con cái. V́ vậy, gia đ́nh là thiết yếu. Luật hôn nhân Lêvi (25, 5 - 10) ra đời. Người em phải lấy chị dâu góa để anh ḿnh có con. Đó là một lề luật có ư hướng tốt để giữ cho gia đ́nh luôn tồn tại và ngăn ngừa sự mai một của ḍng họ nào đó trong dân Ít-ra-en. Dần dà ư niệm này thành cố định. Nhưng Chúa Giêsu giải thích, trong cuộc sống phục sinh, tất cả đều là con cái Thiên Chúa. Ngài không cần hôn nhân để làm nên chúng ta. Sống lại là hành động riêng của Thiên Chúa và là món quà nhưng không ban cho mọi người. Tất cả đều là con Đấng Tối Cao. Chúa Giêsu thông thạo Thánh Kinh và để đối lại với quy chiếu của các ông Saducêo về Đệ nhị luật, Ngài chưng dẫn Xuất hành đoạn 3 câu 6, Thiên Chúa là Thiên Chúa của kẻ sống, chứ không phải là Thiên Chúa của kẻ chết. Đối với Ngài tất cả đều là kẻ sống ! Đời sống phục sinh sẽ như thế nào? Giả tỉ Chúa cho chúng ta một chút kiến thức về đời sống đó ! nhưng Ngài đă không nói ǵ cả. Tuy nhiên những việc Ngài thực hiện đă cho chúng ta được an ḷng. Ngài bảo đảm Thiên Chúa vẫn là Thiên Chúa của chúng ta sau khi chết. Nếu chúng ta đă có Chúa ở đời này, th́ khi sống lại ngài vẫn là Thiên Chúa ấy. Tác giả Barbara Brown Taylor có ư kiến rằng : Thực ra sự phục sinh chẳng liên hệ ǵ đến loài người, nó liên hệ trực tiếp đến Thiên Chúa. Chúng ta tập trung ư niệm về nó dựa trên đức tin hoặc thiếu đức tin nơi chúng ta, đều lạc đề. Nó là sự đ̣i hỏi căn bản của ḷng Chúa tín trung. Ngài tín trung, chứ không phải chúng ta trung tín, cho con cái Ngài sống lại. Ngài không thể bỏ rơi con cái Ngài trong cảnh hư nát vĩnh cửu. Bởi v́ họ là những kẻ Ngài yêu mến. Đó là điều Chúa Giêsu muốn trả lời cho các người Saducêo. Đừng quan tâm nhiều về hôn nhân, nó là phương tiện để chúng ta duy tŕ sự sống ở thế gian này, nhưng trong thế giới mai hậu nó không cần thiết nữa. Thiên Chúa có thể làm cho bụi đất trở thành con cái Ngài. Từ miếng xương khô, từ nắm tro tàn chúng ta sẽ trở thành sự sống mới trong t́nh yêu của Ngài. Việc đó chẳng khó khăn ǵ, bởi Ngài là Thiên Chúa của kẻ sống, chứ không phải của kẻ chết. Chết là hoa quả của tội lỗi, không phải của ơn thánh. Một khi tội lỗi không c̣n, th́ chết cũng không c̣n nữa. Trước mặt Ngài tất cả chúng sinh đều đang sống. Lư giải ở cấp bậc tự nhiên không thể chứng minh có sự sống lại. Nó thuộc về b́nh diện siêu nhiên, kết quả của Ơn Cứu Chuộc. Đọc trong Tân Ước Chúa Giêsu đă qua sự chết mà sống lại. Một đàng Ngài giống như chúng ta ăn uống, nói năng. Nhưng mặt khác, Ngài hoàn toàn khác hẳn : vào pḥng không cần mở cửa. Xuất hiện và biến mất trước mặt các tông đồ. Chỉ cho phép một số ít người xem thấy Ngài … Có điều ǵ đó mầu nhiệm nơi Ngài. Brian Doley khi khảo sát về ḷng tin vào sự sống lại của các tín hữu tiên khởi đă nói rằng : về căn bản họ nh́n vào sự phục sinh của thân xác là hoa quả của sự kết hợp hoàn hảo với Thiên Chúa hằng sống. Bởi v́ họ là phần tử của một cộng đồng tin vào Chúa Giêsu, Đấng đă sống lại, ngự trị trong vinh quang. Ngài gửi Thần khí của Ngài xuống phán xét lịch sử. Kinh thánh khi nói về sự phục sinh loài người, chỉ mô tả chúng ta được sống bên nhau trong niềm hoan lạc vĩnh hằng. Chúng ta biết nhau, biết Chúa và được Chúa biết đến. Từ "biết" trong Kinh thánh có nghĩa là kinh nghiệm về tha nhân trong mối tương quan hết sức thân mật và phong phú. Dầu thế nào đi nữa. Thiên đàng không phải bất động, ở trạng thái tĩnh. Mà cùng nhau chia sẻ sự sống vĩnh hằng, năng động trong hạnh phúc của Thiên Chúa. Chúng ta chưa biết điều đó có nghĩa ǵ. Nhưng trước bàn thờ Thánh thể hôm nay, chúng ta đă có những cái nh́n đúng đắn, bảo đảm một đời sống không bao giờ nhàm chán. Amen.
THỰC TẠI MỚI,
TƯƠNG GIAO MỚI Câu trả lời của Vị Ngôn Sứ Đứng trước cái chết, con người cảm thấy cuộc đời cá nhân của ḿnh bị cắt ngang, họ t́m cách kéo dài sự hiện diện, sự tổn tại của ḿnh qua các tác phẩm nghệ thuât, qua các công tŕnh, qua con cái. Với những dấu vết đó, họ tự an ủi ḿnh bằng cách nghĩ rằng họ không hoàn toàn biến mất, không hoàn toàn tiêu tan v́ vẫn có những người nhắc nhớ đến họ, vẫn lưu giữ những kỷ niệm, những dấu vết của họ. Theo chiều hướng này, luật Mô-sê đă đưa ra điều khoản về "thế huynh" (xem Đnl 27,5-6) : một người đàn bà goá mà không có con, phải kết hôn với em chổng để duy tŕ ḍng dơi cho người anh quá cố. Luật Mô-sê dành ưu tiên cho người đàn ông, nên phụ nữ, trẻ con chỉ là phương tiện, và từ đó tạo nên cả một hệ thống về quyền lợi, dựa trên những mối liên hệ khác nhau của ư định muốn tổn tại lâu dài. Những người thuộc phái Xa-đốc đă bắt đầu từ những mối liên hệ, những quyền lợi của cuộc sống này để đặt câu hỏi với Đức Giêsu : "Người đàn bà ấy sẽ là vợ ai ?" Theo một khía cạnh, câu hỏi đó có lư, v́ nó khởi đi từ quan niệm về sự tổn tại, về quyền lợi, như đă được ghi lại trong luật Mô-sê, với mục đích duy tŕ ḍng dơi của con người.
Thế nhưng, câu hỏi tự nó có tính
cách phi lư và quá chi li : đây là một câu hỏi lắt léo nhằm để bắt bẻ hơn là
làm sáng tỏ vấn đề. Đức Giêsu biết điều đó và Người không quan tâm. Người
làm bùng nỗ hệ thống tư tưởng của con người về cuộc sống mai sau. Với tư
cách là Vị Ngôn Sứ, Đức Giêsu đưa ra câu trả lời không theo lối suy nghĩ và
những hoàn cảnh của cuộc sống trần gian. Người đến để loan báo, để thông ban
sự sống mới, nhưng sự sống đó không phải là một sự tổn tại, không phải là
trường thọ ; trái lại, đó là một cuộc tái sinh, là sự đạt tới một thực tại
khác, một mức độ mới. Khi người ta khen ngợi thân mẫu của Người, Đức Giêsu đă nói : "Ai là mẹ tôi, ai là anh em tôi ?", và Người đă khẳng định về một tương giao mới, về ư nghĩa của gia đ́nh dựa trên mối tương giao với Lời Chúa. Những tương giao nhân bản vẫn có giá trị, nhưng sẽ phải nhường chôỵ cho một tương giao đích thực, trọn vẹn trong Nước Thiên Chúa. Thực tại mới
Như thế, đời sau là một thực tại,
một thực tại mới, khắc hẳn với trần thế này. Trong thực tại mới đó, tất cả
đều biến đỗi : không thể lấy những tiêu chuẩn của trần gian để xét đoán, để
mô tả đời sau. Thật là lầm lẫn khi đặt vấn đề : trong cuộc sống mai sau
không có hôn nhân sao ? hay tương tự như thế : ở đời sau có đá banh không ?
có ti-vi không ? có ... không ? Những câu hỏi này vẫn chỉ dựa trên cái nh́n
của trần thế để hiểu về đời sau. - Con người được nh́n thấy Thiên Chúa "nhăn tiền". Thiên Chúa như thế nào, con người được thấy như vậy : đó là hưởng kiến, đó là hạnh phúc, v́ được nh́n thấy Thiên Chúa với tất cả vinh quang của Người. Trong Thiên Chúa, con người hiểu rơ những ǵ liên quan đến ḿnh, kể cả mối tương giao với bạn bè, với người thân trên mặt đất. - Trong thực tại mới này, con người ch́m ngập trong vinh quang rực rỡ của Thiên Chúa, không có ǵ cao đẹp hơn vinh quang đó, và con người chỉ có việc hưởng vinh quang, ca tụng vinh quang. - Trong cuộc sống trần thế, con người vui hưởng t́nh yêu, cái đẹp, sự hiểu biết, quyền lực ... những điều này chỉ có tính cách tương đối. C̣n trong thực tại mới, Thiên Chúa là chính t́nh yêu, t́nh yêu trọn vẹn, là toàn năng, toàn mỹ, toàn thiện. Đàng khác, theo thánh Phao-lô : thân xác của con người trong thực tại mới này sẽ hoàn toàn khác hẳn với thân xác trên mặt đất, như một cây to lớn khác với hạt giống khởi đầu. Cái gieo xuống là thân xác tự nhiên, cái mọc lên là thân xác thiêng liêng. Thân xác vinh hiển không cần phải ăn uống hay những liên hệ của trần thế này. Khi ấy, con người được như thiên thần và nên con cái Thiên Chúa : họ hoàn toàn sống cho Thiên Chúa và quy hướng về Người. Tin vào Thiên Chúa, Đấng Hằng Sống
Như vậy, câu trả lời của Đức Giêsu
được giải thích như sau : Với cái chết, nhân loại được biến đỗi từ t́nh
trạng thể lư, và được giải thoát khỏi những ràng buộc của trần thế. Chính
Đức Ki-tô, Đấng sẽ chịu chết và phục sinh, loan báo sự thay đỗi này. Không
chỉ có số phận của thân xác được thay đỗi, nhưng cả các tương giao xă hội :
cơ chế và luật pháp sẽ chẳng c̣n giá trị, bởi v́ chúng chỉ là thực tại tạm
thời và vô ích, được sử dụng cho cuộc sống trần gian. C̣n trong thực tại mới,
tất cả phải biến mất, v́ đó là cuộc sống vinh quang, là thời gian viên măn,
là "thời của Đức Ki-tô". Những người được hưởng ơn phục sinh có hai nét đặc trưng : - Một là sự tự do của con cái Thiên Chúa. Theo thánh Phao-lô : những người con của Thiên Chúa không c̣n phải chịu nô lệ dưới ách lề luật, nhưng là những người hưởng tự do trong ân sủng. - Hai là họ được Thánh Thần Thiên Chúa hướng dẫn. Nhờ sự vâng phục Thánh Thần - không hề đi ngược với tự do - họ trở nên những người sống giữa trần gian với nét độc đáo riêng của ḿnh. Nói thế, bởi v́ Thiên Chúa là Đấng Hằng Sống : Người đă tạo tác sự sống và không để sự sống phải tiêu vong ; trái lại, Người duy tŕ sự sống qua việc làm cho kẻ chết sống lại và ban phát sự sống trường cửu. Đức Giêsu sẽ chịu chết và Người sẽ sống lại để tất cả mọi người đều được phục sinh, được tham dự vào sự sống vĩnh cửu của Thiên Chúa. Khi Đức Giêsu nói : "Thiên Chúa của tỗ phụ Áp-ra-ham, của tỗ phụ I-xa-ác, của tỗ phụ Gia-cóp", Người không chỉ gợi lại các biến cố của thời quá khứ và các nhân vật đă qua, nhưng c̣n cho thấy Thiên Chúa là Đấng Bất Tử, là Đấng Bảo Tổn. Tất cả những ai đă chân thành, đă tin Thiên Chúa đều được sống với Người, sống vĩnh cửu. Niềm tin chân chính vào Thiên Chúa cũng gắn liền với niềm tin vào sự sống vĩnh cửu. Qua cuộc đối thoại giữa Vị Ngôn Sứ của sự sống vĩnh cửu và những người không tin vào sự sống này, chúng ta được nh́n thấy những viễn tượng mới, rất rộng lớn. Con người được mời gọi tín thác vào Thiên Chúa hằng sống, Đấng luôn yêu thương và hằng mong ước cho họ được sống với Người măi măi. Sự sống, t́nh thương nơi Thiên Chúa không phải là điều bất toàn, có tính cách tạm thời ; trái lại đó là sự sống, là t́nh thương trọn vẹn, vĩnh cửu. Bởi v́ Người là Đấng Hằng Sống và là T́nh Yêu. Không nhận điều đó tức là không tin Người là Đấng Toàn Năng, và coi Thiên Chúa như bất cứ ngẫu tượng nào khác. Ngoài ra, con người được kêu gọi vượt qua những giới hạn của t́nh trạng gia đ́nh, nghề nghiệp, xă hội ; đổng thời họ được kêu gọi vượt qua những biên giới của t́nh yêu trần thế, để ngay từ cuộc sống nơi trần thế, họ đă khởi đầu cho những tương giao mới, đạt tới tầm mức của con cái Thiên Chúa sẽ được hoàn tất trong cuộc sống mai sau. Như vậy, với Đức Giêsu, cái chết không c̣n là một kết thúc, nhưng là khởi đầu cho cuộc sống mới, cuộc sống đích thực, cuộc sống vĩnh cửu. Hạnh phúc cho những ai, trong những mối tương giao nhân loại, đă bắt đầu kiến tạo thực tại vĩnh cửu này. Bởi v́ ngay từ bây giờ, họ đă khám phá ra sự thật của mối tương giao mới, mối tương giao do chính Thiên Chúa làm nảy sinh. * * *
Lạy Thiên Chúa, Đấng sáng tạo tâm
hổn,
Chúng con sống
Không phải tự sức chúng con Một bạn trẻ Nhật Bản
Vấn đề sống lại Mấu chốt của vấn đề mà nhóm Xa-đốc hỏi Chúa Giêsu là sự sống lại và sự sống đó như thế nào. Chúa đă trả lời làm hai bước : Trước hết, Chúa nói về bản chất của cuộc sống sau khi sống lại, sau đó, Chúa đưa ra một lập luận dựa trên một kiểu nói cơ bản nhất trong bộ Ngũ Kinh là những sách mà những người Xa-đốc công nhận là Sách Thánh. Trước hết, về bản chất của cuộc sống sau khi sống lại. Chúa cho biết nó không phải là một sự lặp lại cuộc sống trần gian, hai yếu tố của cuộc sống trần gian mà những người Xa-đốc nêu lên là chuyện cưới vợ lấy chồng và cái chết th́ sẽ không c̣n nữa, những người đă sống lại th́ được ngang hàng với các thiên thần nên không thể chết được nữa. Sự sống sau khi sống lại là sự tham dự trọn vẹn vào cuộc sống của Thiên Chúa, lúc đó người ta mới thể hiện đầy đủ bản chất là con Thiên Chúa, v́ người ta được sống bằng chính sự sống của Thiên Chúa. Con của loài vật th́ có sự sống của loài vật, con của loài người th́ có sự sống của loài người, con của Thiên Chúa th́ có sự sống của Thiên Chúa. Người ta được ngang hàng với các thiên thần, giống như các thiên thần, không c̣n bận tâm nào khác ngoài việc chiêm ngắm và ngợi khen Thiên Chúa. Vậy th́ lập luận của những người Xa-đốc không đứng vững, bởi v́ chính quan niệm của họ về cuộc sống sau khi sống lại không đúng. Tiếp theo, Chúa Giêsu dựa vào một kiểu nói cơ bản rút ra từ một đoạn văn then chốt trong Cựu Ước và đối với lịch sử Do Thái, đó là đoạn văn kể việc Thiên Chúa hiện ra với ông Mô-sê dưới h́nh ngọn lửa cháy trong bụi gai (Xuất Ai Cập 3,6). Chúa nhấn mạnh vào ông Mô-sê, v́ phái Xa-đốc nh́n nhận uy quyền của ông. Trong sách th́ đây là lời Thiên Chúa tự xưng với ông Mô-sê, nhưng v́ truyền thống Do Thái coi đây là sách do ông Mô-sê viết, nên Chúa Giêsu dựa vào đó mà lập luận. Ông Mô-sê gọi Đức Chúa là Thiên Chúa của tổ phụ Áp-ra-ham, Thiên Chúa của tổ phụ I-sa-ác, và Thiên Chúa của tổ phụ Gia-cóp. Phái Xa-đốc không tin có đời sau, chết là hết, bởi vậy Chúa Giêsu lập luận : nếu chết là hết, th́ các vị tổ phụ kia đă chết rồi, mắc mớ chi mà gọi Đức Chúa là Thiên Chúa của tổ phụ Áp-ra-ham, I-sa-ác, Gia-cóp. Ngài là Thiên Chúa của kẻ sống chứ đâu phải là Thiên Chúa của kẻ chết. Bởi v́ đă gọi Ngài là Thiên Chúa của ai tức là người đó đang sống, tuy đối chúng ta th́ người đó chết rồi. Ông Mô-sê không khẳng định có sự sống lại, nhưng trong kiểu nói này ông Mô-sê cho thấy rằng có cuộc sống đời sau, con người không chỉ có cuộc sống trên trần gian này thôi, chết không phải là hết, nhưng là đi vào một cuộc sống mới, sống trước mặt Thiên Chúa và sống cho Thiên Chúa. Chúng ta thấy lối lập luận của Chúa Giêsu thật độc đáo, nên những người tranh luận với Chúa đă chịu lư và không thể căi lại. V́ thế, bài Tin Mừng hôm nay là dịp thuận tiện để chúng ta suy nghĩ về lời tuyên xưng cuối cùng trong kinh Tin Kính về sự sống lại và sự sống đời sau. Thực vậy, chúng ta tin có sự sống lại và có sự sống đời sau, nên chết không phải là hết, nhưng là bắt đầu sống thực sự, như chúng ta vẫn hát trong thánh lễ an táng : “Lạy Chúa, đối với tín hữu Chúa, đời sống thay đổi chứ không bị tiêu diệt”. Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu, trên giường hấp hối, cũng đă nói: “Tôi không chết, tôi đang bước vào sự sống”. Quả thực, sự chết vẫn hiện hữu, nhưng chết chỉ là chốc lát, một khoảnh khắc, một giây phút, một bước đi : từ tạm thời sang vĩnh cửu, từ hữu hạn sang vô hạn, chết là bắt đầu một đời sống mới, một cuộc đời vĩnh cửu. Tóm lại, chết là một sự kiện hiển nhiên không cần phải chứng minh, đă là con người th́ sẽ phải chết. Và đối với đức tin của chúng ta, th́ thân xác chúng ta chắc chắn sẽ sống lại, nhưng sống lại để sống như thiên thần hay quỷ dữ lại là chuyện khác. Chắc chắn thân xác chúng ta sẽ sống lại, nhưng sống lại để sống hạnh phúc muôn đời hay bất hạnh ngàn thu là vấn đề chúng ta phải hết sức quan tâm, bởi v́ kẻ lành, kẻ sống tốt lành thánh thiện cũng sống lại, và kẻ dữ, kẻ sống xấu xa tội lỗi cũng sống lại, nhưng sống lại để được thưởng hay chịu phạt, đó là điều khác biệt. Căn cứ vào đâu để Thiên Chúa thưởng hay phạt chúng ta ? Căn cứ vào đời sống hiện nay của chúng ta, đời này quyết định số phận đời sau, như Chúa đă quả quyết : “Ai sống làm sao Ta sẽ trả cho như vậy”, “gieo thứ ǵ gặt thứ ấy”. Lạy Chúa, cuộc sống này có là bao ? Ba vạn sáu ngàn ngày là mấy ? Xin cho chúng con luôn nhớ ḿnh sẽ phải chết để sống tốt, sống lành hầu xứng đáng đón nhận phần thưởng vĩnh phúc.
Thiên Chúa Là Đích Đến Của
Chúng Con Thưa quư vị, Nếu như quư vị thuộc về một gia đ́nh lớn hoặc quen biết một gia đ́nh nào như vậy, th́ những điều tôi sắp kể rất quen thuộc với quư vị. Số là gia đ́nh tôi rất đông và thường quy tụ với nhau tại nhà ông ngoại tôi mổi tối Chúa Nhật, không thiếu một thành viên nào. V́ chúng tôi sống và làm việc gần cận nhau. Xa lắm cũng chỉ mất vài phút lái xe. Má tôi có tất cả tám anh chị em. C̣n sống và trưởng thành trọn cả. Mổi Chúa Nhật, chúng tôi tụ họp nhau đông, vui. Người lớn đánh bài, chơi cờ. Phụ nữ nói chuyện dưới bếp và nấu ăn. Dĩ nhiên bưa cơm lớn lắm và ê hề thức ăn, đồ uống. Trẻ con chúng tôi gồm một bầy vài chục đứa, trai gái đủ hết. Đứa chơi trong nhà, đứa nô đùa ngoài trời. Oàn ào như cái chợ con. Một vài người lớn hút huốc lá, hát nghêu ngao hay xem ti vi trắng đen của ông ngoại tôi. Lúc ấy chưa có ti vi màu và cũng chưa sẵn hoạt h́nh. Chúng tôi thường coi Ed Sullivan đóng phim hề. Đúng là bầu khí của thời cổ thời phải không quư vị Bây giờ nó thuộc về quá khứ, gia đ́nh anh tôi chỉ c̣n sống sót một ông cậu già nua, bệnh hoạn. Mười bẩy người khác đă qua đời. Trong các đám tang của họ, gia đ́nh rất đau đớn sầu khổ. Chúng tôi chia sẻ kỷ niệm về mỗi thành viên khuất bóng. Anh em cúng tôi an ủi lẩn nhau nhờ những lời kinh sốt sắng, hay thánh vịnh, thánh ca. Chúng tôi thường nói với nhau rằng : “Cậu A d́ B bây giờ đang ở Thiên Đàng cùng các thân nhân khác. Các cậu có lẽ đánh bài các d́ đang nấu ăn” hoặc “Ông ngoại đang chơi ván cờ vô tận với các con rể”. Nói bừa như vậy, nhưng cũng có tác dụng tốt. Chúng làm dịu bớt nổi thương tiếc của những người c̣n sống. Có lẽ moi phần tử trong gia đ́nh đều có một kư ức, câu chuyện riêng để trao đổi với nhau trong lúc nhớ thương người khuất bóng. Chúng tôi tưởng tượng rằng thực sự các thân nhân của chúng tôi đang cư ngụ nơi cực lạc gọi là thiên đàng. Ở đấy họ được hưởng nhưng ngày tháng vô tận, không c̣n c̣n bện tật khóc than, đau đớn chia ĺa nữa. Ơ nền văn hoá khác cũng tương tự như vậy thôi. Đó là đường lối chúng ta tin tưởng cho những thân nhân đa khuất bóng. Họ c̣n sống và sống mạnh khoẻ, hạnh phúc. Họ sống gần cận, yêu thương và hoà hợp với nhau, không xích mích v́ những điều nhỏ nhặt, tiền bạc hay chơi bài gian lận. Chúng ta cố gắng hết sức vẽ lên các bức tranh thật đẹp về thân nhân qua đời về nơi bồng lai, tiên cảnh, về nơi thiên đàng nơi họ đang cư ngụ. Nhưng mổi lần vào nghĩa trang, chúng ta lại bắt gặp một thực tế phủ phàng, chứ đâu được như trong mộng? Hàng hàng lớp lớp bia mộ sù xi với những tên, những tuổi, ngày sinh tháng đẻ và ngày qua đời. Tôi đứng đấy ngắm nh́n tất cả và nhớ lại tôi đă hiện diện trong những đám tang của họ. Tôi được hân hạnh dẫn toàn thể gia đinh và bạn bè vào những lời kinh tiếng thát cầu nguyện khi người ta đưa thân nhân chúng tôi xuống ḷng đất. Ngươi là bụi tro, nay trở về bụi tro. Không có con đường nào khác. Mẹ tôi, các bác các d́ tôi bây giờ nấu ăn ở đâu. Ông ngoại các bác, các cậu tôi bây giờ đánh bài, chơi cờ, truyện tṛ ở nơi nào? Tôi không biết, nhưng chắc chắn một điều là họ không ném con bài trùm lên bàn gia đinh nữa. Tôi viếng thăm phần mộ của họ, tưởng tượng xương cốt họ nằm trong các quan tài mục nát dưới ḷng đất. Tôi tưởng nhớ đến họ với biết bao tinh cảm yêu mến. Nhưng trí óc tôi làm tôi thất bại: Bây giờ họ ở đâu? Đang làm chi? Có được an nghỉ không? Chẳng có câu trả lời. Chẳng có kinh nghiệm để mà tưởng tượng. Hoàn toàn là bí ẩn và thắc mắc. Tôi moi trí nhớ lấy và câu châm ngôn của Kinh Thánh để được soi sáng và ủi an. Tôi cung cần can đảm để trực diện với cái chết riêng của minh vào một ngày nào đó. Xin dài ḍng văn tự như vậy để miêu tả tâm trạng các Saducêo trong Tin Mừng hôm nay, họ chất vấn Chúa Giêsu về việc kẻ chết sống lại. Họ không tin vào sự việc ấy v́ ông Môsê không hề tiết lộ điều này trong các sách luật của ông. Vậy nếu như kẻ chết sống lại thi đời sau sẽ ra sao? C̣n ăn uống, dựng vợ gả chồng, làm ăn buôn bán nữa không? Đa phần đồng bào Do Thái đều tin là thế. Chết chẳng qua là cái chớp mắt đổi đời. Nhưng có nhiều nghi nan không giải quyết được. Để tăng cường tính vô lư vào niềm tin sống lại, các ngày Saducêo lấy một thí dụ đời thường theo luật Môsê. Một người đàn bà lần lượt làm vợ bảy anh em và vẫn không có con. Vậy khi kẻ chết sống lại bà sẽ là vợ của ai? Đối với chúng ta ngày nay, khoản luật xem ra kỳ quái và tâm trạng người phụ nữ ra sao trước tinh thế trái khoáy như vậy? Nhưng đối với dân Do Thái lúc ấy thi đó là chuyện binh thường và hợp lư v́ tinh h́nh kinh tế eo hẹp của gia đinh. Đa phần người dân lúc bấy giờ rất nghèo, họ chỉ có rất ít tài sản để sống. Cho nên người đàn bà buộc phải lấy chồng kế tiếp như vậy để gia đinh có người con nối dỏi tông đường và của cải không bị chuyển sang tay người khác. Quyền lợi cá nhân trong xả hội như vậy gần như không được tính tới. Không riêng gi phụ nữ, số phận cả nam giới cung tương tự. Ḍng họ, gia đ́nh đứng trên cá nhân. Các vi Saducêo đa xào nấu luật lệ này để đưa ra t́nh huống khó xử cho Chúa Giêsu, đồng thời chế nhạo niềm tin vào sự sống lại của nhưng người Pharisêu và phần lớn quần chúng ngu dốt. Hinh như họ muốn nói với Chúa Giêsu: “Ngài xem đấy, niềm tin của ngài và nhưng người Pharisêu nực cười biết bao. Có bẩy anh em nhà kia cùng cưới một cô gái làm vợ, rồi chết mà không ai có con. Vậy ở kiếp sau khi người phụ nữ cung chết, cô sẽ là vợ của ai. v́ cả bảy đều cưới cô làm vợ. Tin vào việc kẻ chết sống lại là điều thật phi lư”. Nghe vậy, có lẽ Chúa Giêsu phá lên cười. Mấy ông nhà giàu này có lẽ dùng thí dụ oái oăm để đưa ra đề tài thần học mà gài bẫy Ngài chăng? Ngài đă từng đề cập đến vấn đề kẻ chết sống lại để giảng dạy cho dân chúng. Vậy đây là cơ hội tốt để làm sáng tỏ thêm vấn đề. Rồi nhanh chóng ngài gạt phắt lư luận của họ, dùng chính lời Môsê mà chứng minh. Người Saducêo tưởng tượng rằng cuộc đời sau khi chết nếu có thi cũng hơn kém như hiện thời, dựng vợ gả chồng, xây nhà, chợ búa, tiệc tùng say sưa. Lúc đó, cái chết chẳng qua là một sự chuyển tiếp, một sự gián đoạn bất tiện của cuộc sống, một cái chớp mắt nhanh chóng. Rồi đâu lại hoàn đấy. Không riêng người Saducêo, ngày nay chúng ta vẫn tin vào tín điều kẻ chết sống lại với nảo trạng tương tự. Chúng ta vẽ vời nó khá giống cuộc đời hiện tại với vài chi tiết đẹp đẽ hơn. Đó là một nơi hạnh phúc như ở đỉnh núi tiên ông vậy, không phải lao động, không phải cắp sách đến trường, không có bệnh tật, vui chơi vô tận, đánh cờ quên cả thời gian, không phải trả tiền nhà, tiền điện tiền nước. Chuyện dân gian miền nào mà chẳng có vài mẩu chuyện như thế. Đúng là một mơ ước. Nhưng Đức Giêsu cắt ngang mộng mi của chúng ta. Ngài không mô tả chính xác nó là chi và cűng không đáp ứng tính ṭ ṃ của nhân loại. Ngài chỉ đơn giản mạc khải nó không hề giống như cuộc sống hiện nay: “Con cái đời này cưới vợ lấy chồng, chứ nhưng ai được xét là đáng hưởng hạnh phúc đời sau và sống lại từ coi chết thi không cưới vợ cung không lấy chồng. Quả thật họ không thể chết nưa, v́ được ngang hàng với các thiên thần. Họ là con cái Thiên chúa v́ là con cái sự sống lại”. Như vậy Ngài không tiết lộ nội dung của cuộc sống mai hậu, nhưng cűng không cho nó giống như hiện tại mà chúng ta từng kinh nghiệm. Chẳng c̣n cơ cấu, phẩm trật, tổ chức gia đinh. Không có hôn nhân, không tài sản, không lo lắng chiếm hữu. Nhưng ngang hàng với thiên thần và không phải chết. Đây là một đề tài hấp dan để chúng ta suy gẫm và điều chỉnh lối sống theo Lời Chúa. Nhưng có phải tất cả chỉ có thế ? Ngài không cho biết thêm gi nữa sao? Chẳng có thêm chi tiết để các nghệ sĩ của chúng ta vẽ lên phong cảnh Thiên Đàng? Có! Ngài nói thêm chỉ một điều nữa thôi: ở đời này chúng ta tiếp tục là “con cái Thiên Chúa vi là con của sự sống lại” nếu chúng ta sống xứng đáng, sống am hợp với Phúc Âm. Nghĩa là có một sự kiện cụ thể để chúng ta đặt niềm tin vào. Sự kiện cụ thể ấy là Thiên Chúa Đấng tạo dựng vũ trụ đẹp đẽ đa tỏ lộ bộ mặt yêu thương và tha thứ trong con người xác thật của Đức Giêsu Kitô. Người ta chẳng cần cầu kỳ t́m Chúa đâu xa, cứ nh́n vào Đức Giêsu khắc nhận ra gương mặt thật của Thiên chúa và phó thác số phận minh vĩnh viễn vào cánh tay của Thiên Chúa đó. Ngài sẽ không để chúng ta đi lạc vào con đường thế gian. Ngài sẽ mải mải hướng dẫn chúng ta trở thành con cái Thiên chúa. Sự phục sinh của nhân loại hệ tại điều này. Nếu không, chúng ta chẳng được sống lại. Ngài tuyên bố ro ràng như thế khi nói với những vị Saducêo : Họ là con cái Thiên Chúa v́ là con của sự sống lại. Hệ quả thật bẻ bàng : Saducêo không phải là con Thiên chúa, chỉ là con hoang, con tự nhận, v́ không tin vào sự sống lại. Dựa vào câu Phúc âm này, thánh Thomas Aquino đưa ra nhận xét rằng những người quen phạm tội xác thit, nhất là dâm dục, đều chán ghét sự sống lại. Ư kiến thật chính xác vậy mà thiên hạ vẫn ưa thích nhung lụa, ăn uống phỉ t́nh, dung dưỡng xác thit đồng thời tự nhận là môn đệ trung thành của Thiên Chúa. Chẳng hiểu có nên sắp họ vào hàng ngủ Saducêo hay không? Chúng ta phải thành thật với chính minh, không nên nuôi ảo tưởng. Vậy thực tế của minh ra sao ? Yêu xác thit hay yêu sự sống lại ? Mọi người đều biết cha mẹ đều yêu thương con cái ḿnh. Họ dành cho con họ những điều tốt lành nhất, dù phải hy sinh chính bản thân. Họ muốn chúng hạnh phúc nhất đời, như khả năng con người có thể hưởng được. Họ muốn chúng luôn ở bên ḿnh, b́nh an và an toàn. Đó chính là ước muốn của Đức Chúa Trời dành cho mọi linh hồn. Bởi lẻ chúng ta là con cái Ngài, chúng ta tin tưởng vào sự sống lại. Chẳng lẻ Thiên Chúa lừa dối sao? Hoặc chúng ta biến Ngài thành kẻ nói dối khi xác nhận Đức Kitô đa từ coi chết sống lại Chẳng đời nào có như vậy. Thiên Chúa là Chúa của kẻ sống, chứ không phải của những người đa chết. Bài Tin Mừng hôm nay quả quyết như vậy. Cho nên mỗi khi đức tin bi thử thách, hay nhớ lại lời Chúa Giêsu và sốt sắng lảnh nhận Ḿnh Máu Thánh Chúa như bảo chứng của sự phục sinh. Đúng thế, nếu không có cuộc sống mai hậu th́ cuộc sống hiện nay trên trái đất là vô nghĩa, nó chẳng đi đến đâu cả, tương tự như trâu ḅ heo gà mà thôi, hay như ḍng suối chảy vào sao mạc và biến mất. Cho nên chẳng chi có thể thay thế được đức tin vào sự sống lại. Chẳng kẻ vô thần, phiếm thần, man rợ, vô đạo nào chấp nhận cuộc đời này là tất cả ước mong của họ. Ngược lại họ van khao khát cái chi hoàn hảo, vĩnh cửu hơn. Vậy th́ : họ là con cái Thiên Chúa v́ là con của niềm tin sống lại. Amen.
Họ Là Con Cái Thiên Chúa,
Con Cái Sự Sống Lại Bạn làm người được mấy năm ? Chết hết làm người, bạn định làm ǵ ? Sống và chết, có lẽ là điều mà ai trong chúng ta cũng đă từng, đang và sẽ c̣n nghĩ tới. Ngay cả những người vô thần, dù không tin có đời sau, vẫn băn khoăn về ư nghĩa của cuộc đời. Chúng ta lo lắng ḿnh phải sống làm sao, và chết rồi chúng ta sẽ đi về đâu ? Chúng ta thường t́m cách tưởng tượng xem nếu một mai được sống lại th́ chúng ta sẽ như thế nào ? Sự ṭ ṃ này chính đáng nhưng không đem lại câu trả lời thoả măn. Giữa nỗi tuyệt vọng ấy, quan điểm của Chúa Giêsu qua cuộc đối thoại giữa Người và nhóm Xađốc hôm nay, là cơ sở vững chắc cho chúng ta mạnh dạn tuyên xưng trong kinh Tin Kính : “Tôi trông đợi kẻ chết sống lại và sự sống đời sau”. Chúng ta tin tưởng vững vàng và hy vọng chắc chắn rằng : cũng như Đức Kitô đă thực sự phục sinh từ cơi chết và sống măi, th́ sau khi chết người công chính cũng sống măi với Đức Kitô Phục sinh và Người sẽ cho họ sống lại ngày sau hết. (GLHTCG, số 989) Viễn tượng này giúp chúng ta biết nên đầu tư tiền tài, sức lực, trí khôn vào đâu cho hợp lư và bảo đảm tương lai vững bền. Chúng ta chỉ đi qua cuộc đời một lần mà thôi. Nếu đầu tư sai, ắt tất cả sẽ “xôi hỏng bỏng không”, tương lai kể như không có, c̣n cuộc sống hiện tại trở nên vô nghĩa. Do đó, sự sống đời đời đă bắt đầu ngay từ cuộc sống hiện tại. Chính mỗi người đă chọn cho ḿnh số phận vĩnh cửu qua cách sống của ḿnh. Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, dù tuyên xưng ḷng tin của ḿnh, nhưng thực chất thái độ và suy nghĩ của chúng con : chạy theo tiền tài, danh vọng, địa vị, chức quyền, những tiện nghi sung sướng thoải mái mà thế gian có thể cung cấp,… cũng chẳng khác ǵ nhóm Xađốc xưa, những người “chủ trương không có sự sống lại”. Chúng con loay hoay thu vén và vội vă thưởng thức những thiên đàng giả tạo, chóng qua nơi trần thế mà quên đi c̣n một điều cần thiết và cao quư hơn cả là sự sống đời đời trong cung ḷng Thiên Chúa. Trào lưu tục hoá và hưởng thụ của xă hội ngày càng phổ biến là một thách đố lớn cho niềm tin vào sự sống đời sau của chúng con. Chúng con luôn bị cám dỗ buông xuôi, v́ quanh ḿnh bao người khác đang vui chơi, hưởng thụ mà có ai bị làm sao đâu ; dẫn đến chúng con ngại phải “chiến đấu để qua được cửa hẹp” (Lc 13,24), v́ sợ bị thiệt tḥi, sợ bị coi là khác người. Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, qua bí tích thánh tẩy chúng con đă được tháp nhập vào trong thân thể Chúa là Hội Thánh. Tuy nhiên, bấy nhiêu đó thôi th́ chưa đủ bảo đảm một chỗ trên nước Chúa. Chúng con chỉ thực sự có được cuộc sống mới, được “ngang hàng với các thiên thần” và được gọi là con Thiên Chúa, khi ngay c̣n sống ở đời này, chúng con biết tín thác trọn vẹn vào Thiên Chúa và không ngừng vâng giữ những lời Người dạy, mà cụ thể là giới răn mến Chúa – yêu người. Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, “ngoài Chúa ra đâu là hạnh phúc ?”(Tv 16,2) Chúa chính “là sự sống lại và là sự sống” (Ga 11,25). Lời Chúa hứa : “Ai ăn thịt và uống máu tôi, th́ được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết” (Ga 6,54) là cứu cánh cho cuộc đời chúng con. Xin cho chúng con ư thức được ḿnh đang sở hữu một món quà cao quư là Thánh Thể Chúa, và biết tận dụng những ngày tháng nơi trần thế sống kết hiệp mật thiết với Chúa qua việc siêng năng tham dự Thánh lễ và rước Ḿnh Máu Thánh Chúa. Lạy Chúa, xin cho niềm tin vào sự sống lại luôn là động lực để chúng con sống một cuộc sống tốt đạo đẹp đời. Và xin cho tất cả mọi công việc, hành động, lời nói, suy nghĩ của chúng con đều quy hướng về mục đích cuối cùng ấy. Amen.
| |