HOME

 
 

Chúa Nhật XXXIV Thường Niên - Năm C
Chúa Kitô Vua Vũ Trụ

2 Sm 5:1-3 ; Cl 1:12-20 ; Lc 23:35-43

 

An Phong op : Xin Chúa là Vua cai trị ḷng con suốt đời

Như Hạ op : Vua T́nh Yêu

Fr Jude Siciliano op : Thiên Chúa Được Tôn Vinh Trên Thập Giá

Fr Jude Siciliano op : Hôm nay anh ở với tôi trên Thiên Đàng

G. Nguyễn Cao Luật op : T́nh Yêu Chứ Không Phải Quyền Lực

Giacôbê Phạm Văn Phượng op : Chúa Kitô là vua

Phêrô Phạm Văn Hoành op : Giêsu Vua T́nh Yêu

Đỗ Lực op : Bất Bạo Động

 


An Phong op

Xin Chúa là Vua cai trị ḷng con suốt đời
Lc 23:35-43

Sứ điệp Lời Chúa

Hôm nay Giáo hội mừng lễ Chúa Kitô Vua vũ trụ. Ngày cuối năm phụng vụ này, Giáo hội muốn tuyên xưng Đức Giêsu có chủ quyền trên trời cũng như dưới đất. Người là Vua của mọi tâm hồn. Người là Vua của mọi gia đ́nh, nhưng lại là một vị Vua hiền ḥa, khiêm tốn, chịu treo trên thập giá. Phụng vụ Lời Chúa hôm nay tập trung về ư tưởng một vị Vua trên thập giá, nên giá cứu chuộc muôn người, nhưng lại bị chế nhạo và thách đố "Nếu ông là vua dân Do Thái... Nếu ông là Đấng Kitô...". Như thế, mừng lễ Chúa Kitô Vua là dịp chúng ta suy nghĩ về thập giá chiến thắng, qua đau khổ đến vinh quang, đồng thời xin Chúa Giêsu làm Vua b́nh an, hiền ḥa nơi tâm hồn chúng ta.

Suy niệm

Dưới chân thập giá, các thủ lănh người Do Thái đă cười nhạo Đức Giêsu. Người xem ra như bị thất bại. Các Tông đồ chẳng thấy mặt đâu. Dường như họ đă tiêu tan hết niềm hy vọng. Đây thực là một bi kịch dành cho Con Thiên Chúa, Vua dân Do Thái. Vua mà thê thảm đến thế sao! Đức Giêsu là Vua thế nào?

Người thực là một vị Vua không tỏ uy quyền để trấn áp. Người đă bị thách thức "hăy xuống khỏi thập giá". Điều này Đức Giêsu có thể làm "dễ ợt". Nhưng Người không chiều theo sự thách thức này.

Người thực là một vị Vua không t́m lợi ích cho cá nhân ḿnh. Nếu Người tỏ uy quyền lần cuối trước khi chết, th́ đó chính là uy quyền để cho tên trộm lành được vào Nước Trời. Lời của Người chính là quyền năng đem lại hạnh phúc cho người khác.

Người thực là một vị Vua không thống trị bằng sức mạnh, nhưng bằng phục vụ trong t́nh yêu. Những người dưới chân thập giá muốn Người dùng sức mạnh. Dường như khi khiêu khích Người, họ muốn Người tỏ uy quyền của một vị vua trần thế. Đức Giêsu hoàn toàn dửng dưng với những khiêu khích này.

Người thực là một vị Vua "hóa ḿnh ra không" nên "Thiên Chúa đă tôn vinh Người". Khi vào trần gian, Đức Giêsu đă chấp nhận hóa ḿnh ra không. Khi ĺa đời, Người chịu treo trên thập giá trần trụi, khổ đau.

Như thế, Đức Giêsu là một vị Vua của tâm hồn, một vị Vua b́nh an, hạnh phúc và vĩnh cửu. Trên thập giá, Người đă tỏ lộ khuôn mặt một vị Thiên Chúa yêu thương nhân loại đến cùng, tha thứ cho nhân loại tuyệt đối.

Dường như con người chúng ta dễ bị cám dỗ dùng quyền lực - dù là thứ quyền lực nào: tiền bạc, danh vọng, sắc đẹp... - để trấn áp người khác? Đây không phải là lối hành xử của vị Vua ḥa b́nh, Đức Giêsu Kitô.

Dường như con người chúng ta dễ bất b́nh trước những bất công, chiến tranh, đau khổ... và đ̣i Thiên Chúa giải quyết mọi chuyện, thậm chí bằng cả phép lạ nữa? Đúng là Thiên Chúa có thể giải quyết mọi chuyện, có thể làm cho xă hội trở nên tốt đẹp hơn. Nhưng Đức Giêsu không dùng phép lạ để trả lời cho thắc mắc trên. Người muốn sự tha thứ hoàn toàn. Lối vào Nước Trời dành cho những người thành tâm thiện ư, biết tha thứ, kiến tạo xă hội ngày một tốt đẹp hơn.

Ngày nay, Đức Giêsu vẫn đang đồng hành với con người để xây dựng một vương quốc yêu thương vĩnh cửu, nơi đó Người là Vua c̣n chúng ta là những thần dân của Người. Vương quốc b́nh an, công chính và hoan lạc trong Thánh Thần, đó là khởi sự nơi trần thế, nhưng sẽ viên măn trong ngày cánh chung.

Lời nguyện

Lạy Chúa,
này con đang lắng nghe và cầu nguyện,
Chúa đă hứa cho người trộm lành
ngày hôm nay được ở cùng với Chúa trên thiên đàng.
Xin hăy nhớ đến con trong Vương quốc của Ngài.

Chúa đă xin Cha thứ tha cho những người giết Chúa;
xin dạy chúng con biết thứ tha.

Và đây trong đêm đen Ngài kêu lớn tiếng:
"Lạy Thiên Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con, sao Chúa bỏ con ?"
Ngài đă nếm biết nỗi sợ hăi kinh hoàng của cảnh cô đơn,
Lạy Chúa, xin thương xót chúng con.
Khi chúng con bị cám dỗ tuyệt vọng.
Chúng con đói khát chân lư và công b́nh,
và chúng con cũng muốn đi đến cùng, để ư Cha được thực hiện.

Cùng với Chúa trong cảnh trần trụi và bị ruồng bỏ.
Chúng con xin hoàn toàn phó thác trong tay Người.
Lạy Chúa, Chúa đă thí ban mạng sống v́ chúng con
và Chúa đă chết v́ yêu thương.

Mọi sự đă hoàn tất và t́nh thương toàn thắng.


Như Hạ op

Vua T́nh Yêu
Lc 23:35-43

T́nh yêu là mức đo giá trị mọi thực tại. Chiếm được trái tim là chiếm được tất cả ! Đó là trung tâm qui tụ toàn thể tiểu vũ trụ. Từ tiểu vũ trụ sang đại vũ trụ, Đức Giêsu vẫn là vua, v́ Người đă đă chiếm trọn con tim nhân loại. Khi nằm trên thập giá, Đức Giêsu thấy tất cả những giới hạn vô cùng hẹp ḥi của người đời. Tất cả binh lính đều một giọng như nhau : "Nếu ông là vua dân Do thái th́ cứu lấy ḿnh đi !" (Lc 23:37) Các thủ lănh có vẻ thâm độc hơn : "Hắn đă cứu người khác, th́ cứu lấy ḿnh đi, nếu thật hắn là Đấng Kitô của Thiên Chúa, là người được tuyển chọn !" (Lc 23:35) Nhưng Đức Kitô vẫn im lặng. Tuy cười nhạo Chúa, bọn lư h́nh đă thâm gan tím ruột khi đọc bản án tổng trấn Philatô truyền viết phía trên đầu tử tội : "Đây là vua người Do thái." (Lc 23:38) Không cưỡng nổi lệnh truyền đó, nên họ đă t́m cách trả thù. Bao nhiêu căm tức đă đổ dồn lên con người Đức Giêsu.

Nhưng chẳng có đau khổ nào lớn hơn khi chính người đồng cảnh ngộ cũng về hùa với bọn lư h́nh nhục mạ Chúa : "Ông không phải là Đấng Kitô sao ? Hăy tự cứ ḿnh đi, và cứu cả chúng tối với !" (Lc 23:39) Trước những thách thức ồn ào đó, Đức Giêsu vẫn im lặng. Dân chúng khi th́ a dua (Lc 23:17-25), lúc lại bàng quang : "Dân chúng th́ đứng nh́n." (Lc 23:35) Thái độ bất động của dân chúng rất phức tạp. Nhưng chắc chắn không phải ai cũng như bọn binh lính hay người gian phi thiếu hiểu biết. Thật vậy, "dân chúng theo Người đông lắm." (Lc 23:26) Ngay trong hàng ngũ quân đội cũng có "viên đại đội trưởng cất tiếng tôn vinh Thiên Chúa : ?Người này quả thật là công chính.?" (Lc 23:47) Nếu Người là công chính, tất nhiên bản án tử h́nh là một bất công lớn lao giáng xuống người vô tội. Như thế, Đức Giêsu đă chiếm trọn được ḷng người, kể cả những tên lư h́nh và người gian phi. Một trong hai người gian phi đă thành tâm thưa với Chúa: "Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi !" (Lc 23:41) Giữa lúc cùng khốn đó, trí óc ông vẫn minh mẫn biện hộ cho Chúa, đối lại với đồng bọn : "Ông này đâu có làm điều ǵ trái !" (Lc 23:42) Nghĩa là, chính những người đă từng chống cưỡng lệnh Thiên Chúa, giờ đây cũng phải tuyên xưng Người là Đấng Công Chính. Chính v́ thế, Đức Giêsu đă mạc khải cho ông tất cả sự thật về Nước Chúa : "Tôi bảo thật anh : hôm nay anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng." (Lc 23:43) Tin Mừng luôn mang tính "hôm nay" ngay cả khi gặp cảnh cùng khốn nhất. Khác hẳn với những kẻ lợi dụng tương lai để biện hộ cho những ư đồ thống trị hiện tại, Đức Giêsu luôn t́m thấy nét hiện thực trong Tin Mừng. Người không muốn trốn thoát hiện tại, dù hiện tại đau thương nhất, để ẩn ḿnh trong cái vỏ tương lai.

Chính v́ thế, Tin Mừng luôn mang tính hiện sinh, loan báo cho người hôm nay về một Vua Công Chính, Vua Ḥa B́nh. Mọi đối kháng đều bị hóa giải trong chính trái tim Người. Nói khác, Người đă xin Chúa Cha tha thứ cho những tên lư h́nh (x. Lc 23:34) và người gian phi, như Người đă từng tha thứ cho Maria Mađalêna, phụ nữ Samaritana, Phêrô v.v. "Nhờ máu Người đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa đă đem lại b́nh an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời." (Cl 1:20) Là con dân trong Nước Chúa, Kitô hữu không thể không nhớ tới sứ mệnh ḥa b́nh, ḥa giải của ḿnh trong gia đ́nh cũng như xă hội. Sứ mệnh đó chúng ta đă đón nhận từ ngày tháp nhập vào nhiệm thể Chúa Kitô trong bí tích thánh tẩy. Quả thực, "Người cũng là đầu của thân thể, nghĩa là đầu của Hội thánh." (Cl 1:18) Trở thành chi thể Đức Kitô, chúng ta chia sẻ cùng sứ mệnh với Người. Chỉ khi nào thi hành sứ mệnh cao cả đó, chúng ta mới được vinh phúc trở thành con Thiên Chúa (x. Mt 5:9)

Chính khi thi hành sứ mệnh đó, chúng ta chia sẻ vương quyền Đức Giêsu. Trong bí tích thánh tẩy, chúng ta đă được chia sẻ quyền làm vua với Chúa. Sứ mệnh vương giả đó chỉ được thể hiện trong phục vụ. Phục vụ là đối thoại, lắng nghe, tôn trọng mọi người. Phục vụ là sẵn sàng coi người khác hơn ḿnh. Người phục vụ không có ǵ để tự hào. Trái lại, họ biết ḿnh phục vụ ai và tại sao phải phục vụ. Phục vụ cho một đối tượng duy nhất là Đức Kitô, hiện thân nơi nhiệm thể là Giáo hội, tức là dân Chúa. Họ noi gương Đức Giêsu, Đấng đă "sống giữa anh em như một người phục vụ." (Lc 22:27) Thầy phục vụ cho đến chết. Con đường phục vụ là con đường ngắn nhất dẫn đến vinh quang Nước Chúa. Mỗi khi phục vụ, họ thấy ḿnh trở nên giống Chúa Kitô và thể hiện được tất cả nét dịu hiền và đầy ḷng thương xót của Chúa. Phải có một tấm ḷng bao dung như Chúa mới có thể phục vụ một cách vô tư mọi người, không phân biệt chủng tộc, ngôn ngữ, tôn giáo. Đây là nét đặc trưng cao đẹp nhất của Nước Chúa dưới quyền lănh đạo của Đức Kitô. Có lẽ nhiều người sẽ đồng ư với những người Hồi giáo Algerie rằng : "Giáo hội Công giáo rất nhạy cảm trước nỗi khổ đau của người Algeria và mọi nơi, bất kể họ có tin vào Đức Kitô hay không." (VietCatholic 23/11/2001) Tính cách vô tư đó đă hấp dẫn mọi người t́m đến với Đức Kitô Vua T́nh Yêu. Nhờ Người, Thiên Chúa "đă giải thoát chúng ta khỏi quyền lực tối tăm, và đưa vào vương quốc Thánh Tử chí ái." (Cl 1:13)

Chính Người đang thúc đẩy "triều đại Cha mau đến." (Mt 6:10) Hằng ngày chúng ta vẫn đọc lời kinh cao đẹp ấy. Nhưng hỏi mấy ai hiểu được ư nghĩa sâu xa trong lời kinh đó ? Thú thật cho đến gần đây, mỗi khi đọc lời kinh đó, cá nhân kẻ viết bài này rất run sợ v́ vẫn nghĩ rằng Nước Cha trị đến có nghĩa là Chúa sắp tái lâm để phán xét. Nhưng suy nghĩ kỹ, mới thấy "Nước Thiên Chúa là sự công chính, b́nh an và hoan lạc trong Thánh Thần." (Rm 14:17) Như thế, càng lâm cảnh khổ đau, cô đơn, bị đàn áp bất công, càng cần phải xin cho "triều đại Cha mau đến." Nghĩa là, Đức Giêsu luôn dạy chúng ta phải cầu xin Chúa Cha ban ḥa b́nh và no ấm cho nhân loại. Lời cầu xin đó chỉ có thể thành hiện thực trong Đức Giêsu Vua T́nh yêu mà thôi ! Lư do "v́ Thiên Chúa đă muốn làm cho tất cả sự viên măn hiện diện ở nơi Người, cũng như muốn nhờ Người mà làm cho muôn vật được ḥa giải với ḿnh." (Cl 1:19-20)


Fr Jude Siciliano O.P

Thiên Chúa Được Tôn Vinh Trên Thập Giá
(Lc 23, 35-43)

Thưa quư vị.

Thời đại văn minh, thể chế dân chủ được nhiều quốc gia lựa chọn làm hệ thống chính trị điều hành đất nước. Trong xă hội này người ta chỉ nói đến tổng thống, quốc hội, bộ ngành, cho nên ư niệm về vua chúa và quyền bính tuyệt đối của ông không c̣n phổ thông nữa, mà đang bị lu mờ, mai một dần, ngoại trừ ở vài quốc gia ḱ cựu như Anh quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Thụy Điển... Tuy nhiên ở những nước này quyền nhà vua đă bị Quốc hội hạn chế tối đa, chỉ c̣n tính cách tượng trưng cho nền quân chủ và ư chí thống nhất của nước đó. Thỉnh thoảng xem ti vi chúng ta thấy các buổi đăng quang, đám rước, đám cưới hoàng gia với những lễ nghi, xe thổ mộ do ngựa kéo, màu sắc rực rỡ, chúng ta không khiếp sợ như thời phong kiến nữa mà chỉ c̣n hiếu kỳ, lạ lẫm. Thời phong kiến dân chúng sợ hăi quyền bính nhà vua. V́ nó là thứ quyền lực tuyệt đối của kẻ thống trị, ai chống đối phải lănh hậ? quả thảm khốc, thường là tử h́nh và chu di tam tộc (giết tới ba đời con cháu). Đất nước Hoa Kỳ được khai sinh từ một cuộc nổi loạn chống lại quyền bính vua nước Anh trên 13 thuộc địa ở Châu Mỹ. Ngày nay tuy c̣n ngưỡng mộ vẻ đẹp của triều đ́nh ngoại quốc, nhưng chúng ta rất sợ quyền bính phong kiến, cha truyền con nối, ḱm kẹp và thống trị nhân dân. Chúng ta ưa thích nền chính trị dân chủ hơn. Tuy nhiên những cuộc tranh cử, bầu cử, thăm ḍ ư kiến, gian lận kết quả của mấy tháng vừa qua cho hay dân chủ cũng chưa phải là hoàn toàn lư tưởng.

Hôm nay là chúa nhật cuối cùng của năm phụng vụ C. Ba tuần qua Giáo hội đă cho chúng ta suy gẫm về thời kỳ cuối cùng của mỗi người, của thế giới, với động đất, đói kém, ôn dịch, bách hại và mọi loại khốn khổ. Tin Mừng tuần này về cái chết thê thảm của Chúa Giêsu trên thập tự sau khi bị xỉ nhục, chế giễu. Đây là một biến cố trớ trêu, soi sáng cho các linh hồn tôn phong Chúa là "vua" và chấp nhận quyền tối thượng của Ngài trên cuộc sống ḿnh. Nếu so sánh với vua chúa thế gian th́ quyền bính của Đức Giêsu khác hẳn. Nó là một tṛ cười để thiên hạ tiêu khiển, nếu nh́n theo quan điểm thường t́nh thế gian và chúng ta chẳng thể gán tội "phạm thượng" cho những kẻ không tin chế giễu tước hiệu "Vua Thượng Vị" của Chúa Giêsu mà hôm nay chúng ta mừng kính. Nếu hiểu hết ư nghĩa của ba bài đọc th́ họ hẳn phải ôm bụng cười. Bởi v́ họ không thể liên kết được những sang trọng thế gian với vị vua của người có đạo! Một vị vua người ta đem bêu diếu, trói chân tay, đánh nhừ đ̣n, rồi giết chết trên thập giá. Từ đó, ông làm vua những kẻ bé mọn của xă hội, những kẻ bị loại trừ, khinh bỉ, những tội nhân khốn kiếp, những đĩ điếm, x́ ke, những phường lường gạt, buôn gian bán lận biết ăn năn sám hối... Đúng vậy, cả bốn phúc âm đều mô tả cái chết của Chúa Giêsu trong chiều hướng đó và mạc khải căn cước thật của Ngài là Vua Công Chính, là con Đức Chúa Trời, được tôn vinh trên vạn vật ở đúng thời điểm Ngài gục đầu trút hơi thở cuối cùng trên thập tự! Nói cho ngay, dù mỗi Phúc âm tŕnh bày cuộc đời rao giảng của Chúa Giêsu một cách khác, với những chi tiết gần như cách biệt nhau khá xa, mang màu sắc của cộng đoàn địa phương, mang cả tính t́nh của người viết, nhưng khi đến mạc khải Ngài là vua, th́ họ đều hợp nhất về quyền bính và chức vị của Ngài trên những kẻ tin kính.

Chúng ta có thể giải thích quan điểm đó như sau: Đối với người Do thái, chỉ Thiên Chúa là "vua" duy nhất của dân tộc và tôn giáo. Ngoài ra không có vua nào khác. Khi ra khỏi Ai Cập, dân Israel chỉ có quan án ngồi xét xử cho dân. Đến thời tiên tri Samuel dân muốn bắt chước các nước xung quanh, xin một vị vua, th́ tiên tri bực ḿnh đi cầu nguyện cùng Đức Chúa. Đức Chúa phán bảo ông: "Ngươi cứ nghe theo tiếng của dân trong mọi điều chúng nói với ngươi, v́ không phải chúng gạt bỏ ngươi, mà là chúng gạt bỏ Ta, không chịu để Ta làm vua của chúng" (1Samuel 8,5). Người đầu tiên được xức dầu làm vua Israel là Sa-un. Ông được chọn không phải v́ tài cao, sức mạnh, nhưng v́ ông phản ảnh h́nh ảnh Thiên Chúa là vua. Ông đại diện Đức Chúa cai trị dân chúng. Ông lănh trách nhiệm trước mặt Đức Chúa, cầm cân nẩy mực công lư trong dân. Vua Sa-un đă thất bại trong nhiệm vụ của ḿnh, bị Đức Chúa loại bỏ, chọn Đa-vid lên thay thế. Đavid được sức dầu cũng không phải v́ địa vị của ḿnh trong nhà cha ḿnh, mà v́ ông có phẩm chất của người thay thế Đức Chúa lănh đạo dân Do thái. Ông là một vị vua mục tử thay thế Thiên Chúa chăn dắt Israel: "Ngươi sẽ là mục tử chăn dắt dân Ta là Israel. Ngươi sẽ chăn dắt chúng như người mục tử chăn dắt chiên cừu". Như vậy bài đọc 1 cho ta hiểu ư nghĩa của ngày lễ hôm nay. Đavid, người mục tử dẫn dắt tuyển dân Thiên Chúa, hợp nhất các bộ lạc c̣n đang tản mác, chọn Giêrusalem làm thủ đô và trị v́ trong suốt 40 năm. Tuy có nhiều nhược điểm, nhưng đức tính nổi bật nhất của ông là tài dẫn dắt dân tộc Israel đạt tới nền thịnh vượng chưa từng có. Phụng vụ nhớ đến ông v́ ông là h́nh ảnh của Đức Kitô dẫn dắt Hội thánh. Có điều khác biệt: Ông cai trị trên ngai vàng cung điện nguy nga ở giữa Giêrusalem. C̣n Chúa Giêsu trên cây thập giá bên ngoài thành thánh. Ngài chịu đóng đinh ở đấy, cai trị và được tôn vinh ở đấy, bởi v́ đó là nơi người mục tử chăn dắt đoàn chiên, những kẻ tội lỗi, sa đoạ bị loại trừ...

Người trộm thứ hai theo tiêu chuẩn của xă hội và tôn giáo lúc ấy đúng là một kẻ bị loại trừ. Nhưng ông đă nh́n thấy triều đại Thiên Chúa hiện thân nơi Đức Kitô tan nát và giẫy chết. Chẳng có chi sang trọng và vương giả nơi con người khốn khổ ấy. Bề ngoài chỉ là một tội nhân khác bị nhà nước thần quyền kết án. Tuy nhiên người trộm lành đă được ơn soi sáng công nhận Đức Giêsu đích thật là vua, oai phong và vinh hiển hơn các vua trần thế, nên đă khiêm tốn tùng phục Ngài, xin Ngài một đặc ân mà chỉ Thiên Chúa mới có quyền ban: "Lạy ông Giêsu, khi nào về nước Ngài xin nhớ đến tôi cùng". Bằng lời cầu xin ngắn gọn, người trộm lành đă tuyên xưng đức tin, ăn năn hối cải v́ các lỗi lầm đă phạm, và công nhận uy quyền của Chúa Giêsu kéo dài ngay cả sau cái chết. Nói cách khác mọi sự không chấm dứt sau khi tắt thở. Trái lại, tồn tại vĩnh viễn: "Khi nào về nước Ngài xin nhớ đến tôi". Ông đă nhận ra căn tính Thiên sai nơi Đức Kitô bên cạnh. V́ thế, vị vua mục tử mà Phúc âm luôn mô tả như t́m kiếm và cứu chữa những con chiên thất lạc, đă vội vă thâu nhận anh vào nước Trời: "Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với Tôi trên thiên đàng". Nghĩa là anh được sống ngay lập tức trong nước Đức Chúa Trời, không phải chờ đợi đến ngày tận thế, khi mọi người sống lại. "Anh được ở với Tôi" là lời hứa anh hoàn toàn được hạnh phúc trong t́nh thân thiết với Chúa Giêsu. Điều mà mỗi người chúng ta đều khát khao. Mặc dầu lúc ấy anh đang bị đóng đanh bên Chúa Giêsu, đau đớn và tủi nhục.

Vậy th́ vương quyền của Chúa Giêsu là thế nào? Ngài làm vua ra sao? Lời đối đáp trên kia cho ta câu trả lời. Ngài hoàn toàn phản ánh h́nh ảnh Thiên Chúa- mục tử, mà dân Israel luôn tôn thờ. Ngài phân phát ḷng thương xót và ơn tha thứ cho những ai kêu xin và người đầu tiên được hưởng ơn ấy là một kẻ trộm, cùng chịu án tử h́nh với Ngài. Cho nên bất cứ ai t́m kiếm ơn cứu độ đều được thỏa măn nếu tin vào Ngài, không có chỗ cho thất vọng, đắng cay. Suy niệm đến đây hẳn chúng ta phải ngỡ ngàng về thượng trí khôn ngoan của Đức Chúa Trời, lo liệu cho loài người phương thế vô song để thoát khỏi bàn tay tội lỗi, được cứu độ tức thời và được sống thân thiết với Chúa Giêsu. Đồng thời phải trào dâng ḷng cảm tạ tri ân lên Thiên Chúa toàn năng, và vua Giêsu hiển trị muôn đời, không ngu xuẩn như những thủ lănh Do thái chế nhạo Chúa. Họ hô lớn: "Hắn đă cứu người khác, th́ cứu lấy ḿnh đi, nếu thật hắn là Đấng Kitô của Thiên Chúa". Thực tế, chẳng những Chúa đủ quyền năng cứu lấy ḿnh mà c̣n cứu lấy người trộ? lành và muôn vàn linh hồn khác nữa. Ngài không những là vua dân Israel mà c̣n là vua của toàn thể vũ trụ.

Cái chết trên thập tự của Chúa đă rơ ràng xác định ư nghĩa chức vụ làm vua của Ngài và vương quyền Ngài thực hiện trên thân phận nhân loại. Đó là sự thật hiển nhiên đối với ai có ḷng tin. Quyền bính của Ngài không phải để ngự trị hống hách như kiểu thế gian, bóc lột và ḱm kẹp. Nhưng là cứu giúp và giải thoát. Nó hiện diện trong những kẻ yếu đuối, tội lỗi, những kẻ thua thiệt trong xă hội, biết ngước trông lên Ngài. Suốt trong các sách Phúc âm người ta t́m ra Chúa Giêsu giữa những người tội lỗi, thu thuế, gái điếm, cùi hủi, mù loà, què quặt. Những người mà xă hội loại bỏ. Một số chấp nhận Ngài đồng thuyền đồng hội với họ, số khác từ chối. Những ai chấp nhận Ngài ban phát ơn tha thứ và hoà giải, họ được chữa lành phần xác và phần hồn. Dưới chân cây thập giá cũng vậy, không có người trung lập, hoặc là họ chế nhạo Chúa hoặc là họ tin kính Ngài. Thánh Luca kể: "Khi Đức Giêsu bị đóng đinh trên thập giá, dân chúng th́ đứng nh́n c̣n các thủ lănh th́ buông lời chế nhạo". Những ai cười nhạo đều dùng từ "cứu". Dĩ nhiên họ muốn thấy hiệu quả tức thời, xuống khỏi thập giá và đi lại mạnh khoẻ như một phép lạ. Các binh lính, các thủ lănh và một người trộm cùng chịu đóng đanh đều thách thức Chúa Giêsu tự cứu ḿnh, tự giải thoát ḿnh khỏi cây thập giá. Nhưng họ đă lầm, từ "cứu" trong Phúc âm có nghĩa rộng hơn nhiều. Nó bao gồm mọi khía cạnh của cuộc sống con người, ngay cả của toàn thể vũ trụ. Hẳn chúng ta c̣n nhớ câu văn nổi tiếng của thánh Phaolô: "Vạn vật quằn quại chờ ngày được cứu". Đối với các tín hữu, từ "cứu" c̣n có nghĩa thoát khỏi tội lỗi và sự chết. Cho nên họ nh́n thấy cái chết của Chúa Giêsu một ư nghĩa to lớn hơn, to lớn vô cùng. Nếu như Ngài muốn cứu chúng ta và thế giới, Ngài phải đi qua cái chết trên thánh giá, số phận đă được Thiên Chúa Cha quyết định từ khi sinh ra ở Bêlem. Vậy th́ quyền cai trị của Chúa Giêsu không phải trong đường lối sang trọng thế gian. Trái lại, được biểu lộ qua cái chết khiêm nhường, hoàn toàn không vương giả. Điều trớ trêu là lời nhạo báng của các binh lính La-mă: "Nếu ông là vua Do thái th́ ông hăy tự cứu ḿnh đi". Lại là sự thật rơ ràng đối với thế giới Công giáo.

Người trộm lành đă nh́n thấy ư nghĩa đó. Đức Kitô là vua, dáng vẻ bề ngoài là một tử tội đáng ghê tởm, hoàn toàn thất bại, hoàn toàn bị hạ nhục, không một chút uy thế nào. Nhưng lại là Cứu Chúa có quyền năng chiến thắng sự chết, ban cho ông ta sự sống và hạnh phúc đời đời: "Lạy ông Giêsu, khi nào về nước Ngài, xin nhớ đến tôi cùng". người trộm lành không nghi ngờ chút nào về sứ vụ cứu độ của Chúa Giêsu, mặc dầu trước mặt chỉ là một tử tội đang chịu đóng đinh. Một đức tin, đúng hơn một sự soi sáng, dũng mạnh biết bao! Nếu chúng ta cũng được ơn như vậy trong cuộc sống hằng ngày, hẳn chúng ta đă không ăn ở lạnh nhạt như hiện trạng. Tuy nhiên, bài học quan trọng cho chúng ta là: Khi phải gánh chịu thiệt tḥi trong cuộc sống. Khi các thế lực sự dữ bao vây chung quanh. Khi không c̣n một khả năng nào trong tay. Khi thất vọng về những cố gắng thay đổi nếp sống. Khi phải đối đầu với khó khăn kinh tế, luân lư, chính trị. Khi phải đấu tranh chống tham nhũng, hối lộ, áp bức, bất công. Khi phải lo lắng về các cơ cấu thối nát trong Giáo hội, xă hội. Lúc than khóc thân nhân qua đời. Khi tuyệt vọng về t́nh h́nh thế giới: Luân lư đồi bại, phá thai, x́ ke, ma tuư, tội ác có tổ chức... Chúng ta hăy nh́n lên Chúa Giêsu chịu đóng đinh và nhận ra có lẽ đấy là những dạng khác nhau của biến cố trên đồi Can-vê mà Phúc âm hôm nay kư thuật. Chúng cũng đang chế nhạo Chúa Giêsu. Nhưng kỳ thực Ngài vẫn là vua. Người trộm lành đă ngoảnh mặt làm ngơ trước những chê cười đó và trong đau đớn ông kêu xin Chúa cứu chữa ḿnh. Ông đă đặt niềm tin vào nơi xem ra chẳng có chút hy vọng ǵ. Chúng ta hăy noi gương ông. Điều mà ông đă được nghe th́ chúng ta cũng sẽ được nghe. Điều mà ḷng tin của ông đă đạt được chúng ta cũng sẽ đạt được: "Hôm nay ngươi sẽ ở trên thiên đàng với Ta". Thiên Chúa hiện diện ở những nơi xem ra không thể được: ngục tù, tối tăm, hèn hạ... Trên thập tự ai có thể tưởng tượng Thiên Chúa có mặt? Đôi mắt người trộm lành ngắm nh́n Chúa Giêsu ai có thể nói rằng ông ta đang ngắm nh́n ơn cứu độ? Vua của những kẻ ngoài lề lại chết trên thập giá. Việc đó am hợp với Phúc âm. Bởi lẽ Ngài luôn tuyên bố: Thiên Chúa là mục tử tối cao của nhân loại và Đức Kitô có nhiệm vụ dẫn dắt đoàn chiên trở về ràn. Vậy trong thánh lễ hôm nay, chúng ta phải cúi đầu bái lạy Ngài, v́ chỉ có Ngài mới là vua đích thực của mọi tâm hồn. Amen.


Fr Jude Siciliano O.P

Hôm nay anh ở với tôi trên Thiên Đàng
(Lc 23, 35-43)

Thưa quư vị.

Ba bài đọc hôm nay và thánh vịnh đáp ca đều được chọn cho ư nghĩa của ngày lễ Chúa Kitô vua. V́ vậy chúng ta cố gắng t́m trong kinh thánh và phụng vụ chân dung của Đức Kitô mà Giáo hội muốn tŕnh bày cho các tín hữu trong ngày lễ hôm nay.

Hai sách Samuel mô tả lại đời sống của dân Israel trong đất hứa. Mặc dù những ơn lành to lớn Chúa ban cho dân tộc, nhưng Israel thất bại không sống đúng với địa vị dân tuyển chọn, họ thường xuyên vi phạm các giao ước đă kư kết với Thiên Chúa trung tín. Sách các quan án cho ta một số quan niệm về lối sống đó. Họ chẳng có thủ lănh tốt lành để tập họp dân chúng thành một cộng đồng thánh thiện và trung thành. Cho nên hai sách Samuel dần dần đưa dân vào luật pháp dưới sự cai trị của các vua. Sách Samuel thứ nhất kể chuyện về chính tiên tri Samuel và vua Saulô. Theo sự chỉ đạo của Thiên Chúa, Samuel đă xức dầu cho Saulô làm vua Israel. Chẳng bao lâu Saulô để lộ yếu điểm của ḿnh và thất sủng trước mặt dân và Đức Chúa.

Samuel lại xức dầu cho David làm vua theo sự hướng dẫn của chính tay Đức Chúa Trời. So sánh với Saulô, lúc này David tỏ ra xứng đáng hơn. Ông được mô tả như vị vua lư tưởng và là đại diện của Chúa cai trị dân Israel. Các thủ lănh cũ kể cả Saulô không có chăn dắt và dưỡng nuôi dân Chúa cho đúng nghĩa. Họ hà hiếp bóc lột hơn là chỉ đường dẫn lối và v́ vậy Chúa lại giơ bàn tay ra chọn David để dâ? dắt dân Ngài. David một người chăn cừu chuyên nghiệp bây giờ trở thành vua. Ông phải tập hợp dân tuyển chọn đang bị tản mác thành đoàn chiên duy nhất và hướng dẫn dân theo ư Thiên Chúa. Triều đại ông đă thành công. Mặc dầu ông có những nhược điểm và lầm lỗi ông vẫn làm biểu tượng cho một vua mới, giống như ông. Đó là hy vọng vào một Đấng Thiên sai cuối cùng sẽ giải phóng dân Ngài. Xin nhớ Đức Kitô Đấng chăn chiên nhân lành của Chúa Nhật hôm nay thuộc ḍng giống David. Ngài đă chu toàn đầy đủ ước vọng của Thiên Chúa và của tuyển dân như một thủ lănh khôn ngoan và như người chăn chiên tốt lành.

Khi mới xuất đầu lộ diện, Chúa Giêsu đă kích động được trí tưởng tượng của dân Do thái tôn Ngài làm vua. Nhưng cảnh tượng chịu đóng đinh nhục nhă trên thập tự đă khép lại hoàn toàn mong ước đó. Những người lính La mă đă bày tỏ nỗi thất vọng bằng câu thách thức : "Nếu ông là vua dân Do thái, hăy tự cứu ḿnh đi ?" (Lc 23, 36) nghĩa là một tử tội chịu đóng đinh như ông th́ làm vua cái nỗi ǵ ? Như thế là họ chế giễu Chúa Giêsu và sự thất bại của Ngài ! Trước mắt họ, Ngài chỉ là một tên tội phạm quèn. Nhưng không cứu nổi ḿnh, tên tử tội Giêsu lại cứu chúng ta !

Chưa hết, một trong hai kẻ trộm cùng bị đóng đinh với Chúa Giêsu xoá sổ luôn cái danh phận Đấng Thiên Sai của Ngài nữa : "Nếu ông là đức Kitô hăy tự cứu ḿnh và cứu chúng tôi nữa ? (Lc 23, 39) anh ta có ư nói : một người khốn khổ như thế này mà đ̣i làm Đấng Thiên Sai cứu vớt thiên hạ, trong khi chẳng cứu nổi ḿnh ! Ngày nay, người ta cũng gán cho ai đó cái mặc cảm "thiên sai", khi cố gắng vô vọng cứu chữa bệnh nhân hoặc cứu giúp ai thoát khỏi một t́nh huống hết đường chữa chạy.

Nhưng trong ánh sáng của Cây Thập giá Chúa Giêsu, Đấng Thiên Sai mang một ư nghĩa khác hẳn. Chức vị Thiên Sai thực sự trước mặt những kẻ bàng quang là một thất bại hoàn toàn. Họ làm sao thấy được khi chỉ có mắt trần, không có mắt đức tin ? Chức Thiên Sai của Thiên Chúa không phải là thành công vật chất, mà là thành công siêu việt hơn nhiều, thành công trong ơn thánh mà cây thập giá chỉ là khởi đầu ! Từ cái thất bại này mà ơn cứu độ chảy tràn lan trên khắp cả nhân loại, tự tạo thiên lập địa cho đến ngày tận thế, từ Đông chí Tây, từ Nam chí Bắc. Những ai cảm thấy ḿnh thất bại trong cuộc đời hăy nh́n lên cây Thập tự Chúa Giêsu mà học lấy bài học quư giá, chuyển đổi mục tiêu đời ḿnh lên cấp bậc cao hơn, thánh thiện hơn !

Nhưng làm thế nào trong bối cảnh thương đau như thế chúng ta có thể đọc được thư của thánh Phaolô gởi tín hữu Côlôsê ? Trong thư này, thánh Phaolô ca tụng Đức Kitô như vị cứu tinh, h́nh ảnh của Thiên Chúa vô h́nh, nhờ Ngài mà muôn vật được tạo thành "trên trời và dưới đất ?" Dĩ nhiên chúng ta ngày nay có lợi điểm nh́n vào toàn bộ cục diện của ơn cứu chuộc, gồm cả sự sống lại và lên trời của Chúa Giêsu. Nhưng lúc ấy, ai có thể khiển trách binh lính La mă về thái độ nhạo báng của họ ? ai có thể sửa lưng dân chúng và người ăn trộm yếm thế về việc thách đố quyền lực của "Vua" tự nhận Giêsu ? Vào hoàn cảnh của chúng ta, có lẽ chúng ta cũng hành động tương tự ! "Vua" kiểu chi vậy ? Nếu thực là vua, tại sao không biểu lộ quyền năng của ḿnh trong giây phút cần đến nó nhất ? Ngày xưa đă vậy, bây giờ th́ sao ? Những người vô tội chịu đau khổ, những kẻ thối nát ngồi ghế trị v́ ! Các cuộc đóng đinh tân thời xảy ra khắp chốn, khắp nơi trên thế giới. Vậy th́ chúng ta trông đợi được chi ở cái ông "vua" kỳ quặc này ?

Sau nhiều năm nghiền ngẫm, thánh Luca mô tả sự kiện đóng đinh bằng lăng kính của biến cố "sống lại". Giữa quang cảnh ồn ào của chiều thứ sáu chịu nạn, vẫn có một người với dáng điệu làm "Vua", nghiêm nghị và oai phong. Bề ngoài người đó không c̣n chút quyền lực nào cả, nhưng trên thực tế, Ngài đă ban ra một sắc lệnh mà không một ông vua nào trên trần gian có thể làm nổi : Tha tội cho tên trộm lành, cứu vớt và đưa anh ta vào vương quốc của Ngài ! Ngài đă làm điều mà chính Ngài tuyên bố trong hội đường Do thái ở lúc khởi đầu sứ vụ của ḿnh (4, 18) : Thần khí Chúa ngự trên tôi, v́ Chúa đă xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn, tuyến bố một năm hồng ân của Thiên Chúa." người tử tội trên thật là nhất quán ! Về phần anh trộm lành, anh cũng giở "quẻ" cuối cùng của anh mà "thó" được Nước trời, anh được vào nhưng không, chẳng cần công xá. Anh đă nhận ra nạn nhân tan tác bị đóng đinh bên cạnh anh chính thực là vua dân Do thái, Đấng Thiên Chúa gởi đến để cứu anh.

Theo truyền thống tên anh là Dismas, ở nhà nguyện khám đường San Quentin (California) có bức tranh chân dung anh được treo trên tường. Trong bức tranh Dismas là một thanh niên trẻ, vận áo dài, đứng mỉm cười nh́n các khách thưởng lăm. Tương truyền h́nh thánh Dismas được một tử tù vẽ. Không có người mẫu anh dùng chính anh làm mẫu. Anh đứng trên một cái ghế, soi gương, lấy một chiếc khăn tắm choàng lên vai cho có h́nh vải rũ để vẽ áo dài. Gian pḥng vẽ nhỏ xíu, anh chẳng thể bước ra xa để lấy viễn cảnh, nhưng anh đă lấy một viễn cảnh khác là chính bản thân để được Chúa Giêsu cứu chữa. Thật là đẹp ! Chúng ta có dám ví ḿnh như người trộm lành để được Chúa cứu ? Chẳng hiểu người tử tù ngụ ư chi khi vẽ ḿnh với nụ cười hoan hỉ trên gương mặt ! Có lẽ anh vừa được nghe xong lời tha tội ! Thế th́ ai dám treo cổ những tử tù như vậy ?

Rời bỏ mơ mộng, tôi lái xe đi Nicaragua, một nước nghèo nhất Châu Mỹ (Chỉ đứng sau Haiti) để quan sát bầu cử ở đấy. Đa phần người dân chỉ đủ ăn một bữa mỗi ngày, vậy mà có những tư dinh rộng hàng chục mẫu tây, với những Buildings đồ sộ, những con đường rộng thênh thang chạy qua lại các tư dinh ấy. Ngay trong nước Mỹ, mỗi lần bầu cử hàng chục triệu Dollars được tung ra để tiêu dùng vào mục đích tranh cử. Liệu các chức vụ công cộng ấy có giúp các quan chức phục vụ cộng đồng một cách vô tư, tích cực ? Ḷng tôi đầy nghi ngờ thiện chí của họ ! Nhưng trước mặt tôi, trên bàn làm việc này, có một ông vua Do thái treo tọng teng một cách thảm hại trên cây khổ giá ! Ông lên đây bằng cách nào ? Ôm hết tất cả các tội nhân, người cùi hủi xă hội, người bị loại trừ, bầm dập, những thất bại của nhân loại dâng lên Cha Ngài xin tha thứ và chấp nhận. Đó là chức vị "vua" của ông ta, Đấng Thiên Sai được Thiên Chúa gởi đến cho nhân loại !

Dismas thạo nghề trộm cướp hơn đọc kinh. Chúng ta giáo dân, tu sĩ thạo nghề đọc kinh hơn trộm cướp. Đó là điều chắc chắn. Nhưng cuối cùng th́ ai đă hơn ai ? Tuy nhiên một điều rơ ràng hơn nữa là Dismas biết cầu nguyện. Ông đă lặp đi lặp lại hàng trăm lần : "Lạy Ngài xin thương xót tôi, khi nào về Nước trời xin nhớ đến tôi", trước khi anh đủ can đảm mở miệng nói với người tử tội bên cạnh, và anh đă được nghe câu trả lời ngọt ngào : "Hôm nay anh được ở với tôi trên Thiên Đàng." từ ông vua nhân ái, Đấng Thiên Sai đầy ḷng xót thương. Amen


G. Nguyễn Cao Luật op

T́nh Yêu Chứ Không Phải Quyền Lực
Lc 23:35-43

Quang cảnh và những thái độ khác nhau

Đức Giêsu chịu treo trên thập giá : theo cái nh́n b́nh thường, đây là một thất bại nặng nề. Bị kiệt sức do những tra tấn tàn nhẫn, Người không thể sống lâu hơn được nữa. Người chẳng c̣n gây nguy hiểm ǵ cho các đối thủ của Người nữa. Người sắp trút hơi thở cuối cùng ; Người im lặng trước những lời lẽ đầy vẻ khiêu khích, tấn công.
Các kỳ mục Do-thái t́m cách phá đỗ toàn bộ công tŕnh Đức Giêsu đă thực hiện nơi con người. Họ nhạo báng : "Hắn cứu được thiên hạ, có giỏi th́ cứu lấy ḿnh đi." Một khi tâm hổn đă đóng kín, đă chai cứng, người ta chẳng c̣n một chút xót thương, và toàn bộ ư nghĩa bị đảo ngược. "Nếu thật hắn là Đức Kitô, người được Thiên Chúa tuyển chọn, th́ hăy cứu lấy ḿnh đi !"

Trước mặt cả đám đông, Đức Giêsu bị coi như không c̣n thuộc thế giới kẻ sống. Người ta không c̣n nói ǵ đến Người, có chăng, th́ cũng coi Người như là kẻ vắng mặt. Làm sao họ có thể nh́n nhận con người đang hấp hối kia là Đấng đă được các ngôn sứ loan báo ? Làm sao họ có thể công nhận Người là vị Vua vinh quang như h́nh ảnh họ từng thấy qua các hoàng đế Rô-ma hay Cận Đông ?

Cả đám binh lính cũng chế giễu Đức Giêsu. Và quan tỗng trấn Phi-la-tô tỏ dấu khinh khi qua việc ông cho viết tấm bảng treo trên thập giá với hàng chữ mỉa mai : "Người này là vua dân Do-thái."

C̣n dân chúng, họ đứng im lặng và nh́n xem. Họ đă từng tin vào Đức Giêsu, họ đă từng nghe những lời nói mạnh mẽ như lửa đốt từ miệng Người. Ngoài ơn được lành bệnh, họ c̣n nhận được từ nơi Người sự b́nh an và niềm vui. Giờ đây, trước cây thập tự, họ hoảng hốt, kinh hoàng. Đức Giêsu bị xếp vào hàng những quân trộm cướp. Mọi hy vọng tan tành như mây khói.

Quanh cây thập giá, một thứ trật tự đă được thành h́nh, trật tự của những người chống lại Đức Giêsu. Đàng sau quang cảnh đẫm máu này là một thứ hệ thống khác : hệ thống tôn vinh sự thành công và quyền lực : "Nếu thật hắn là Đức Kitô ... th́ cứu lấy ḿnh đi ..."

Là Vua, qua việc tha thứ

Nếu như bất th́nh ĺnh Đức Giêsu chấp nhận hệ thống này và xuống khỏi thập giá, như xưa kia, lúc ở trong sa mạc, Xa-tan đă từng thách thức Người gieo ḿnh xuống từ nóc Đền Thờ, th́ hẳn người ta sẽ lập tức đặt Người vào trong hệ thống đó ! Khi ấy, chắc chắn người ta sẽ về phe với Người và sẽ suy phục Người, sẽ phục hồi quyền bính cho Người.

Nhưng không ! Đức Giêsu đă không chấp nhận hệ thống quyền lực ấy. Người đă từng tuyên bố trước mặt tỗng trấn Phi-la-tô : "Nước tôi không thuộc về thế gian này ..." Người không muốn chiếm lấy quyền lực, và cũng không theo cách của con người. Nếu Người muốn làm vua, làm thủ lănh theo kiểu của loài người, th́ hẳn Người đă chấp nhận điều đó, khi dân chúng đổng thanh tung hô, sau phép lạ hoá bánh ra nhiều. Nếu Người muốn thu phục dân chúng theo kiểu xă hội trần gian, th́ hẳn Người đă có nhiều cơ hội tốt để làm điều đó, nhất là sau khi thực hiện những phép lạ.

Đó không phải là điều Đức Giêsu t́m kiếm ! Đó không phải là điều Người mong muốn. "Tôi đến không phải để được kẻ hầu người hạ, nhưng là để hầu hạ mọi người." Chính trong ư tưởng ấy, Người đă chấp nhận chịu treo trên thập giá để "lôi kéo mọi sự" lên với Người.

Đức Giêsu t́m kiếm một thứ quyền lực khác - nếu có thể gọi như thế - đó là sự sống nơi tâm hổn con người. Sự hiện diện, các lời nói, hành vi của Người là nhằm đem lại sự sống, nhằm nâng cao con người chứ không nhằm bó buộc họ. Và con đường của Đức Giêsu cũng khác hẳn con đường của nhân loại : con đường đó là khiêm tốn, là phó dâng mạng sống, là hy sinh, là tha thứ.

Bởi đó, trong hoàn cảnh bi đát nhất của cuộc đời, Đức Giêsu vẫn thốt lên một cách rất thanh thản : "Lạy Cha, xin tha cho họ, v́ họ không biết việc họ làm." Không một lời than trách, không một lời nguyền rủa, nhưng đầy ḷng tha thứ và c̣n khẩn nài Cha trên trời rộng ḷng thứ tha ... Đức Giêsu chết với tư cách là Đấng Cứu Thế ; Người phó nộp sự sống của chính ḿnh để nhân loại được sống.

Với thái độ này, Đức Giêsu vừa phá đỗ hệ thống quyền lực của đám đông đang vây quanh thập giá, đổng thời thiết lập một hệ thống khác, một quyền lực khác, đó là sự sống. Sự sống phát sinh từ tha thứ, từ phục vụ. Quyền lực ấy, Đức Giêsu đă nhận được khi chịu treo trên thập giá, khi trút hơi thở cuối cùng.

Là Vua, qua việc ban tặng

Cùng lúc ấy, một trong hai tên gian phi bị treo trên thập giá, lên tiếng sỉ vả Đức Giêsu : "Ông không phải là Đấng Kitô sao ? Hăy tự cứu ḿnh đi, và cứu cả chúng tôi với !" Đó là tiếng kêu của con người đầy nghi ngờ. Con người này, vào những giây phút cuối của đời ḿnh, vẫn không mở ḷng ra trước t́nh yêu của người khác.

Trái lại, người kia khám phá ra rằng ḿnh có thể làm người. Anh ta không t́m cách "thu phục" Đức Giêsu vào với ḿnh. Anh hiểu rằng người chịu treo trên thập giá kia không giống ḿnh, và anh cũng chợt khám phá ra nét rực rỡ nơi người ấy. Bởi đó anh đă mắng tên kia : "Chúng ta chịu như thế này là đích đáng, v́ xứng với việc đă làm. Chứ ông này đâu có làm điều ǵ trái."

Anh không đ̣i cho ḿnh một đặc ân nào, và chính nhờ đó anh có thể thông hiệp với Đức Giêsu, và anh mong muốn Đức Giêsu cũng cho anh được thông hiệp. Từ đáy ḷng, anh hết sức thương cảm trước cực h́nh Đức Giêsu phải chịu, anh ư thức thế nào là công chính, và anh thốt lên tiếng nói đầy tin tưởng và phó thác : "Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước ông, xin nhớ đến tôi !"

Đức Giêsu thu hết chút tàn lực, Người xác nhận ư nghĩa cuộc đời : "Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng."

Bôỵng nhiên, tất cả đều bị đảo lộn. Người trộm cắp, kẻ bị loại bỏ, đă ra khỏi hệ thống quyền lực của trần gian để bước vào thế giới của Đức Giêsu, thế giới của ơn tha thứ, của việc ban tặng, của ân sủng. Anh đă được cứu thoát. Anh đă nhận ra rằng vương quyền của Đức Giêsu được củng cố qua việc Người chấp nhận chết như một người nô lệ, chứ không phải qua chiến thắng oanh liệt, ngay cả khi chiến thắng sự ác. Anh cũng nh́n nhận rằng trong cái chết này, có con đường mở ra dẫn đến sự sống, và chính anh đă đi từ cơi chết sang sự sống.

Một lần nữa, lần cuối cùng trong cuộc đời, Đức Giêsu thể hiện toàn bộ tính cách độc đáo trong sứ mệnh của Người. Ngay từ khi bắt đầu hiện diện giữa trần gian, Đức Giêsu đă thể hiện tính cách của người nghèo khó, của người tôi tớ ; Người đă sống, đă thực hiện tính cách ấy trong suốt cả cuộc đời, và tính cách ấy đă dẫn Người tới cái chết thảm thương trên thập giá. Nhưng cũng trong thời điểm bi đát này, Người bày tỏ vương quyền cao cả của Người : đó là sự sống vĩnh cửu, là sự tha thứ.

* * *

Như thế, ngày lễ Đức Kitô Vua không chỉ là một sự kiện pháp lư, không có vẻ hào nhoáng rực rỡ, nhưng là một khẳng định rơ rệt và chắc chắn về t́nh thương, về sự phục vụ. Đó là một hổng ân của Thiên Chúa chứ không phải do những lời tung hô chúc tụng của con người. Đức Giêsu đă biến một kẻ vô lại thành vị thánh đầu tiên trong Giáo Hội, nhờ sức mạnh của t́nh yêu. T́nh yêu ấy tha thứ tất cả, ban phát tất cả, kể cả sự sống vĩnh cửu.

Ngày lễ Đức Kitô Vua được Giáo Hội xếp vào cuối năm Phụng vụ như là cao điểm, như sự thành toàn mà mọi người phải hướng về. Như "người trộm lành", môỵi người Kitô hữu cần cảm nghiệm được rằng : Đức Kitô đúng thực là chủ tể đời ḿnh, chính Người cứu độ những yếu hèn, những tội lôỵi của ḿnh, chính Người ở bên cạnh ḿnh trong những đau khỗ của cuộc sống trần gian, và chính Người đón nhận ḿnh vào vương quốc vĩnh cửu.

Như thế, mọi Kitô hữu, dù trong hoàn cảnh nào, vẫn là thần dân của Nước Thiên Chúa : "Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng." Họ phải để cho t́nh yêu của Người xâm nhập, và, ngay giữa những thất bại, những khỗ đau, họ vẫn phải kêu lên : "Lạy Đức Giêsu, xin nhớ đến tôi."

Thế nhưng, chúng ta có đủ tin vào Đấng là T́nh Yêu và là Đấng Cứu Thế ?

* * *

Lạy Chúa,
Con là kẻ khốn cùng,
phải chăng con sẽ được nh́n thấy
căn lều của con đă sụp đỗ
sẽ được xây dựng lại ?

Con là cái b́nh sành hỏng,
đă bị vỡ tan,
phải chăng con sẽ được hổi phục ?

Phải chăng tháng ngày ưu phiền của con
sẽ được ch́m vào ân sủng chan chứa
và con sẽ được tham dự vào bữa tiệc,
trong căn lều chan hoà ánh sáng ?

phỏng theo Grégoire de Narek


Giacôbê Phạm Văn Phượng op

Chúa Kitô là vua
Lc 23,35-43

Chúa Giêsu có phải là vua không ? Ngài là vua, nhưng không theo nghĩa trần thế hay nghĩa chính trị mà người đời thường hiểu. V́ thế, nhiều khi dân chúng công nhận, tung hô Ngài là vua, Ngài phủ nhận ngay, v́ họ lầm tưởng Ngài là một lănh tụ, xuất hiện để đánh đuổi thực dân đế quốc Rô-ma, giành lại đất nước, quyền hành như vua Đa-vít xưa. Chúa cũng phủ nhận danh hiệu này, khi tổng trấn Phi-la-tô hỏi Chúa : “Ông có phải là vua dân Do Thái không?”. Ngài trả lời : “Đúng như ông nói”, nhưng Chúa thêm ngay : “Tôi là vua, nhưng nước tôi không thuộc về thế gian này”, tức là Ngài không làm vua như chúng ta vẫn nghe, vẫn thấy, không dùng binh lực, không dùng những phương tiện trần thế, không dùng bạo lực đàn áp đối phương để bảo vệ ḿnh, giả như Chúa có dùng binh lực để tự vệ th́ cũng chẳng ai làm ǵ được Ngài. Tuy nhiên, trong ngày Ngài khải hoàn vào thành Giê-ru-sa-lem, tức là ngày lễ Lá, Ngài đă im lặng, không cải chính, để cho người ta hái lá, lấy áo trải trên đường cho Ngài đi, và chấp nhận để cho họ tung hô Ngài là con vua Đa-vít, vua dân Do Thái.

Như vậy, Chúa Giêsu xác nhận Ngài là vua, nhưng không phải theo nghĩa chính trị, Ngài không âm mưu cướp chính quyền, không muốn tranh ngôi vua với hoàng đế Xê-da. Vậy Chúa làm vua thế nào ? Nước ngài ở đâu và thuộc dân của Ngài là những ai ? Kinh  Thánh cho biết : Đấng Cứu Thế là vua, thế mà Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế, nên Ngài là vua. Ngài là vua theo nghĩa Ngài là Đấng Thiên Chúa sai đến để dẫn dắt loài người đến sự sống thật, Ngài đến để giảng dạy sự thật, làm chứng cho sự thật, biểu lộ t́nh thương của Thiên Chúa đối với loài người, và dạy cho loài người biết dự định hay kế hoạch của Thiên Chúa đối với loài người, là muốn giải thoát họ khỏi tội lỗi và sự chết, muốn cho họ được làm con Thiên Chúa, được thừa hưởng hạnh phúc bền lâu, và được vinh quang đích thực.

Nói rơ hơn, Chúa Giêsu đến trần gian không phải với sứ mạng giải phóng dân Do Thái và nhân loại khỏi ách nô lệ của đế quốc, Ngài cũng không đến để giải thoát chúng ta khỏi đói khát và chiến tranh, tất cả sứ mạng của Ngài là giải phóng chúng ta khỏi tội lỗi, nguồn gốc của đế quốc, đói khát và chiến tranh, giải phóng nhân loại khỏi tội lỗi, đó mới là điều cần thiết, và đó là sứ mạng độc nhất của Chúa Giêsu. V́ thế, Chúa đă đi vào tận đáy thân phận con người để bộc lộ vương quyền thật của Ngài, Ngài chỉ muốn cai trị tâm hồn người ta. Do đó, tất cả những ai muốn được giải thoát khỏi tội lỗi và tin theo Ngài, sống theo những lời Ngài dạy, họ sẽ là thuộc dân của Ngài và được hội nhập vào nước của Ngài, như công đồng Va-ti-ca-nô II đă nói : “Nước Chúa Kitô được bảo vệ không phải do bạo lực, nhưng được bền vững do việc đón nghe và làm chứng cho chân lư, được mở rộng nhờ t́nh yêu. Ai muốn làm thuộc dân của Ngài, ai muốn làm công dân nước Ngài, cần phải ăn năn, hối lỗi, tin cậy vào Ngài, nhận phép rửa tội và chấp nhận làm theo những điều Ngài dạy”.

Một ông vua thường hay cứu giúp thuộc dân của ḿnh khi họ gặp khó khăn, tai ương, hoạn nạn. Chúa Giêsu là vua cũng trong ư nghĩa cứu giúp, Ngài là Thiên Chúa luôn sẵn sàng cứu giúp những ai yêu mến và tin cậy Ngài. Ngài ở bên cạnh họ, nh́n thấy tất cả những nỗi khổ đau trong đời họ, ngay cả những khổ lụy chưa xảy đến Ngài cũng biết hết. Là con người, ai trong chúng ta cũng có lúc gặp khó khăn, có khi c̣n gặp bước đường cùng, gặp ngơ bí, ngơ cụt với những khó khăn dường như không thể vượt qua, hoặc có những lúc lo âu phiền lụy xâm chiếm hoàn toàn đời ḿnh khiến chúng ta thất vọng, chán nản, nhưng rồi sự ǵ xảy đến rồi cũng lại qua đi, biết bao người đă kinh nghiệm được sự cứu giúp của Thiên Chúa.

Tuy nhiên, có thể có những lần chúng ta cảm nghiệm được sự cứu giúp của Chúa đúng lúc chúng ta kêu xin, nhưng cũng có lần chúng ta chờ hoài sự trợ giúp của Ngài mà chẳng thấy đâu, chỉ thấy “hát lâu chầu mỏi”. Phải chăng Thiên Chúa đă chậm trễ ? Phải chăng Ngài ở xa không thấy chúng ta ? Phải chăng Ngài ngủ quên ?  Thánh vịnh 121 quả quyết : “Thiên Chúa không hề bao giờ buồn ngủ hay ngủ gật”, Thiên Chúa không hề bị giới hạn bởi thời gian, không gian hoặc hoàn cảnh, bất cứ ở đâu và lúc nào Ngài muốn là Ngài làm được, không có ǵ có thể ngăn cản được Ngài, sở dĩ Ngài đă không đến cứu giúp chúng ta như chúng ta trông mong, có thể đối với Chúa, đó không phải là lúc chúng ta cần, Ngài biết rơ lúc nào là lúc tốt nhất để Ngài đưa sự trợ giúp đến để chúng ta thêm tin yêu Ngài. Cũng thế, Thiên Chúa chưa cứu giúp cũng có thể v́ thời điểm của Ngài khác thời điểm của chúng ta. Chúng ta th́ muốn hiện tại lúc này, rồi chúng ta lại bị giới hạn bởi thời gian tâm lư : khi vui thấy thời gian trôi lẹ quá, khi buồn thấy thời giờ chậm trễ. Khi chúng ta chờ đợi là lúc chúng ta thấy thời giờ như thế, chúng ta không dám đối diện với hiện tại, chúng ta không đủ kiên nhẫn chờ đợi, cho nên cứ thấy Chúa ở xa và xa tắp. Chúng ta hăy nhớ : “Một ngày đối với Chúa như ngàn năm”. Ngoài ra, Thiên Chúa chưa cứu giúp cũng có thể là do chúng ta chưa đủ đức tin, chưa đủ lời cầu nguyện, v́ thế, dù hoàn cảnh nào chúng ta cũng hăy nhớ Thiên Chúa là cha, Ngài là vua đầy uy quyền và t́nh thương để cứu giúp, phần chúng ta hăy luôn tin cậy và phó thác.


Phêrô Phạm Văn Hoành op

Giêsu Vua T́nh Yêu
(Lc 23:35-45)

Ngày lễ Chúa Kitô Vua, Giáo Hội tŕnh bày cho ta thấy ư nghĩa đích thực Vương quyền của Chúa Giêsu, cách thế Ngài tiến lên đài vinh quang, cách Ngài chinh phục con người, đồng thời cũng cho ta thấy rằng : vương quyền của Ngài cũng sẽ bị chống đối trong giai đoạn hiện tại. Các thủ lănh tôn giáo nhạo cười và thách thức Ngài,  “Hăy tự cứu ḿnh đi”. Những người lính cũng nhạo cười Chúa, cho Người uống giấm, và Phi-la-tô đóng đinh Người trên thập giá với câu nói đầy sự mỉa mai : “Đây là vua người Do-thái”. Thế nhưng những kẻ đó đă vô t́nh làm ứng nghiệm lời  trong Tv.22, 8 “Thấy con ai cũng chê cười, lắc đầu bỉu mỏ buông lời mỉa mai“ . Chúa Giêsu đă bước lên đài vinh quang uy quyền, qua đau khổ như lời các tiên tri đă loan báo. Ngài không xuống khỏi thánh giá như lời thách thức của các đầu mục Do-thái, nhưng Ngài đă đáp lại bằng cách kéo mọi sự lên cùng Ngài : kẻ trộm lành nh́n nhận Ngài, viên đội trưởng tôn Ngài là người công chính, dân chúng đấm ngực hối lỗi, và muôn dân sẽ nhờ Ngài mà được trở thành con Thiên Chúa, Ngài hạ ḿnh và Thiên Chúa sẽ tôn vinh Ngài lên.

Chúa Giêsu không phủ nhận Vương quyền của ḿnh. Trước ṭa án, Chúa Giêsu đă xác nhận với tổng trấn Phi-la-tô: “Tôi là Vua” (Ga.18,37), nhưng không phải là vua đi tranh ngôi với hoàng đế Xê-sa-rê hay Hê-rô-đê mà hội đồng công tọa tố cáo. Vương quốc của Ngài không có màu sắc chính trị phàm trần , xâm chiếm lănh thổ. Ngài không xuất hiện như các ông vua khải hoàn, ngựa xe ngợp trời, tù binh cả đám. Ngài ngồi trên con lừa khiêm tốn, hiền ḥa theo lời sấm ngôn Da-ca-ri-a (Mt.21,5), Ngài đến để đem b́nh an, công chính chứ không mang gươm giáo.

Ngài là Vua nhưng không phải là vua thống trị, mà là Vua “Hiến mạng sống cho đoàn chiên” (Ga.10,11). Trên thap giá Ngài đă đánh bại Xa-tan, tử thần, đă đem lại sự công chính hóa toàn dân, và mở ra thời kỳ ân phúc cho nhân loại.

Nước Chúa là nước t́nh thương, an ḥa và phục vụ. Kẻ thù thách thức Ngài xuống khỏi thập giá để cho họ tin, nếu quả Ngài là Con Thiên Chúa, nhưng Ngài sẽ không bao giờ sử dụng quyền năng để mưu cầu tư lợi. Ngài đă từ chối đề nghị này của Xa-tan và sẽ chẳng bao giờ nghe lời thách thức của người Do-thái. Vương quốc thế gian xây trên sức mạnh của vũ khí thích dương oai, đàn áp; c̣n Vương quốc của Chúa dựa trên sự thật, trên lẽ phải trên t́nh thương. Ngài đến để phục vụ và hiến mạng sống cho thần dân của Ngài, đúng như Ngài nói : “Ta đến để chiên Ta được sống và sống dồi dào hơn”.

“Khi ông vào nước của ông, xin nhớ đến tôi !”. Trái với tên trộm ngoan cố, người trộm lành đă thống hối ăn năn, anh nh́n nhận quá khứ không tốt của ḿnh, và vui nhận h́nh phạt do tội của anh gây nên. Điều lạ lùng là anh đă nh́n thấy Vương quyền của Chúa Kitô giữa mọi sự và nói : “Ông Giêsu ơi, khi ông vào nước của ông, xin nhớ đến tôi !”. Câu nói biểu hiện ḷng tin của anh vào con người cùng bị đóng đinh : Ngài vô tội, Ngài sẽ không chấm dứt đời ḿnh bằng cái chết, Ngài sẽ vào trong nước Ngài và sẽ đem theo những ai thành tâm tin theo Ngài. Đứng trước ḷng trông cậy đó, Chúa Giêsu đă đáp lại lời cầu xin, khi Ngài nói : “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng”. Chúa đă nhận anh vào Nước Hằng Sống với Ngài.

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể.

Mừng kính Chúa Kitô vua là dịp để giúp chúng con nh́n lại thân phận yếu đuối của ḿnh. Chúng con đang sống trong thế giới có nhiều biến động, chiến tranh, thiên tai và dịch bệnh. Thế giới mà chúng con đang trải qua có thể nói là văn minh nhưng đầy cạm bẩy. Nhiều người đang mải mê với thế tục trần thế: chạy theo tiền tài, danh vọng. Mà ngay bản thân chúng con đă không ít lần vấp ngă. Sự phân biệt đối xử đang len lỏi vào những ngốc ngách của cuộc sống, trong phạm vi gia đ́nh, quốc gia và trên thế giới.  Xin cho chúng con có một ḷng tin mănh liệt, vào uy quyền và t́nh thương tha thứ của Chúa Cứu Thế trong mọi nghịch cảnh, để nhờ ḷng tin đó chúng con đến với Chúa trong những lúc vui, buồn, sướng khổ. Lắng nghe Chúa trong mọi biết cố của cuộc đời. Và  hơn thế nữa, chúng con cũng bắt chước Chúa : đem ánh sáng Chúa vào nơi tối tăm, đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem chân lư vào nơi lỗi lầm. Amen.


Đỗ Lực op

Bất Bạo Động
(Lc 23:35-43)

Ngày 16 tháng 09 năm 2007 vừa qua, kỷ niệm 5 năm ngày ĐHY Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận qua đời, Ṭa Thánh khởi sự án phong chân phước cho người. Hôm sau, khi tiếp kiến Hội đồng Ṭa Thánh Công lư và Ḥa b́nh, ĐGH Bênêđictô XVI đă gọi ĐHY là “vị Ngôn Sứ đặc biệt của niềm hy vọng Kitô.” (1)  Tại sao?

Đây là câu trả lời của ĐHY : “Thánh giá và dây đeo này không những là kỷ niệm quư giá về những năm tù đầy, nhưng c̣n là một nhắc nhớ liên lỉ cho tôi biết rằng chỉ có đức ái Kitô mới có thể hoán cải tâm hồn, chứ không phải vũ khí, lời hăm dọa hay truyền thông. Những người canh gác tôi rất khó biết khi nào tôi nói về ḷng yêu thương kẻ thù, sự ḥa giải và ơn tha thứ.” (2)

Khi c̣n sinh tiền, đi đâu ĐHY Nguyễn Văn Thuận cũng khoe cây Thánh giá Người đă dầy công tác tạc trong lao tù. Cây Thánh Giá đă khắc sâu trong tâm hồn người như một hồng ân và một dấu chỉ độc nhất giúp người nhận biết và đón nhận Vua Công Chính đang cai trị Nước Thiên Chúa bằng t́nh yêu bất bạo động.

ĐĂNG QUANG TRONG NƯỚC MẮT

Giây phút cuối cùng trên thánh giá thật ngắn ngủi, nhưng cũng đủ cho Chúa thực hiện những điều vĩ đại nhất trong cuộc đời. Chưa bao giờ Chúa trải qua cơn đau khổ, nhục nhă cùng cực như vậy. Chỉ c̣n khoảnh khắc nữa, Chúa sẽ bị đẩy vào cơi thinh lặng ngàn thu. Nhưng chính lúc đó, Chúa đă hoàn thành sứ mạng cao cả nhất, sứ mạng công chính hóa nhân loại. Vua Công Chính đă đăng quang trong một khung cảnh ngược đời.

 Khác hẳn mọi vua chúa trần gian, Chúa đă chọn giây phút nhục nhă nhất để tỏ ra tất cả vinh quang Thiên Chúa. Hậu cảnh càng đen tối càng làm nổi bật những nét công chính vĩ đại trong t́nh yêu Thiên Chúa. Trong khung cảnh tối tăm và giữa những tên đại gian ác, Con Chúa đă lên ngôi dẫn theo cả một đàn em đông đúc. Kể từ giờ phút đó, Thiên Chúa “đă giải thoát chúng ta khỏi quyền lực tối tăm, và đưa vào vương quốc Thánh Tử chí ái ; trong Thánh Tử, ta được ơn cứu chuộc, được thứ tha tội lỗi.”(Cl 1:13-14)

Nhân loại đă xúc phạm đến Thiên Chúa là Đấng Công Chính. Đó là sự bất công vô cùng đối với Thiên Chúa. Đồng thời họ đánh mất sư công chính thuở ban đầu. Không ai có thể đền bù nổi sự mất mát lớn lao đó. Nếu Con Chúa không lấy cái chết nhục nhă để trả lẽ công b́nh cho Thiên Chúa,  nhân loại muôn đời không bao giờ được công chính hóa. H́nh ảnh Thiên Chúa vĩnh viễn xóa tan trong con người. May thay, Con Thiên Chúa đă đến gánh tội trần gian và chấp nhận mọi đau thương, nên con người mới lấy lại địa vị làm con Thiên Chúa.

Chính lúc đ̣i Thánh Tử đền thay tội trần gian, Thiên Chúa đă mạc khải tất cả t́nh yêu vô cùng lớn lao cho nhân loại. “Để cứu đầy tớ, Chúa đă hy sinh chính Con yêu.”(Lễ Phục Sinh) Hai mặt công b́nh và t́nh yêu đă t́m được ḥa điệu tuyệt vời nơi Đức Kitô, Đấng đă chiến thắng và cứu vớt tất cả từ cây Thánh Giá.

Không có cái nh́n sâu xa đó, những người Do thái lại lên giọng thách thức Chúa : “Ông hăy cứu lấy ḿnh !”(Lc 23:35) Câu nói được lặp lại ba lần, cho thấy công cuộc cứu độ là vấn đề chính mọi người đều quan tâm ở đây. Lần thứ nhất phát xuất từ miệng những người cầm quyền. Họ tưởng quyền bính là tuyệt đối. Họ đă không cứu, th́ không ai có thể thoát khỏi tử thần. Trớ trêu thay, chính lúc họ thách thức, không những Chúa đă tự cứu chính ḿnh, mà cả nhân loại. Thật là phi thường và bất ngờ!

Lần thứ hai những người lính cũng ḥ hét ngạo mạn Chúa. Theo họ, nếu thực sự là vua dân Do thái, Chúa Giêsu phải chiến đấu, như họ thường trực diện tiêu diệt quân thù. Họ muốn nhắc nhở Chúa phải triệt tiêu những điều bất chính trong trần gian. Càng gào to, họ càng không hiểu chút ǵ về vương quyền và vương quốc của Chúa Giêsu. Chúa không nghe theo luận điệu của họ để tiêu diệt kẻ thù trước mắt. Người không chống cự hay giận dữ. Nhưng Người phó thác số phận và cuộc đời trong tay Chúa Cha.

Lần thứ ba tiếng nhục mạ vang lên từ miệng tên gian phi. Tuy cùng chung số phận, kẻ trộm bên tả lên tiếng nghi ngờ và thách thức Chúa.  Chúa nhường lời cho người đồng phạm của y đáp trả hắn đích đáng. Chỉ cần một chút lương tri, người trộm lành lư luận với đồng phạm về bản chất công lư : “Chúng ta chịu như thế này là đích đáng, v́ xứng với việc đă làm. Chứ ông này đâu có làm điều ǵ trái!”(Lc 23:41) Lẽ tự nhiên, có vay có trả. Tâm thức đó phản ảnh đức công chính nơi Thiên Chúa.

Người trộm lành đă tỏ ra hiểu biết Chúa chính xác. Không những thế, dù đang đau đớn cùng cực, anh vẫn tin tưởng kêu lên : “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi!”(Lc 23:42) Lập tức Chúa nói với anh : “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.”(Lc 23:43) Như một ngôn sứ vĩ đại, Chúa đă nói lên một sự thật, sự thật về ḷng thương xót vô điều kiện của Chúa. Không phải chỉ bằng lời nói, nhưng qua hành động, Người đă chu toàn sứ mệnh dù đang hấp hối : “Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi.”(Mc 2:17)

Thiên Chúa có cái nh́n khác hẳn con người. Ơn cứu độ không thực hiện theo bộ diện bên ngoài. Ơn cứu độ là sự công chính hóa toàn diện, phát xuất tư t́nh yêu Thiên Chúa. Người muốn cứu vớt tự bên trong và hướng con người đến hạnh phúc đích thực. Người không muốn biểu diễn những pha ngoạn mục trước mắt người đời. Nhưng Người thực hiện tức khắc những ǵ đă hứa cho những ai thuộc về Nước Thiên Chúa. Thiên Chúa mạc khải t́nh yêu vĩ đại và hoàn toàn nhưng không khi Chúa tỏ ḷng thương xót đối với người trộm lành. Người trộm lành trở thành biểu tượng cho những muốn ai đón nhận ơn tha thứ sâu xa của Thiên Chúa.

Chính nhờ t́nh yêu, Chúa Kitô đă biến đổi con người hoàn toàn. Người đến để cải hóa chúng ta. Người đưa dẫn chúng ta qua nẻo đường mầu nhiệm tới cảnh trời mới đất mới. Đó là cách khiến Chúa Kitô trở thành vị vua rất phi thường. Ngày xưa, các ngôn sứ hay các nhân vật Cựu ước chỉ ảnh hưởng bên ngoài qua  các lề luật. Khác với họ, Chúa Giêsu biến đổi tận nội tâm con người nhờ ân sủng. Chúa không nói nhiều. Nhưng Người biến chúng ta thành tạo vật mới và trở thành con Thiên Chúa, v́ đă đươc công chính hóa. Từ đó, không những là Vua Công Chính, Người c̣n là Tạo Hóa. Thật vậy, “trong Người, muôn vật được tạo thành.”(Cl 1:15)

Không có vị vua nào có thể sánh ví với Người. Lănh thổ của Người bao trùm vạn vật, v́ “tất cả đều do Thiên Chúa tạo dựng nhờ Người và cho Người.”(Cl 1:16) Nói khác, Người là điểm quy tụ muôn loài. Dù sống giữa những đối kháng, Người vẫn có khả năng ḥa giải, v́ có thể làm cho mọi loài nên công chính. Người là Vua Ḥa B́nh. Thật vậy, “nhờ máu Người đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa đă đem lại b́nh an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời.”(Cl 1:20) Trên bàn thờ thập giá, Người đă trở thành vị Thượng Tế và Hi tế để ḥa giải, nối kết và hoàn thành mọi việc trong đất trời (x. Cl 1:19).

CÔNG LƯ VÀ H̉A B̀NH

Nh́n lên Thánh giá, nếu không có đức tin, sẽ không thể hiểu tại sao Vua Công Chính lại trở thành Vua Ḥa B́nh. Nhưng thực sự khi chết cực kỳ đau khổ trên Thánh giá, Người đă trả lại công lư, mạc khải t́nh yêu và đem lại ơn tha thứ cho toàn thể nhân loại. Đó là những điều kiện cho một nền ḥa b́nh đích thực, ḥa b́nh không do bạo động.

Quả thế, “không thể có ḥa b́nh, nếu không có công lư. Không có công lư nếu không tha thứ.” (3) Nh́n vào thực tế, ĐGH Gioan Phaolô II lư luận : “Trong t́nh thế hiện tại, làm sao chúng ta có thể nói về công lư và sự tha thứ như nguồn suối và điều kiện ḥa b́nh? Chúng ta có thể và phải nói, dù khó khăn tới mấy. Khó khăn v́ thường tưởng rằng công lư và sự tha thứ không thể dung hợp. Nhưng tha thứ đối nghịch với sự oán hận và trả thù, chứ không với công lư. Thực vậy, ḥa b́nh đích thực là “công tŕnh của công lư.” (Is 32:17) Theo Công đồng Vatican II, ‘ḥa b́nh là kết quả việc ổn định trật tự thiên nhiên do Đấng Tạo Hóa đă ghi khắc vào xă hội loài người và phải được con người luôn khát vọng nền công lư hoàn hảo hơn thể hiện ra hành động.’ (Gaudium et Spes, 78) Bởi đó, ḥa b́nh đích thực là kết quả công lư. Nhưng v́ công lư nhân loại mong manh và bất toàn, lệ thuộc vào những giới hạn và tính ích kỷ của cá nhân và phe nhóm, nên nó phải được bổ túc bằng sự tha thứ, có sức chữa lành và tái thiết tận nền tảng những mối tương quan đang gặp trục trặc.” (4) 

V́ thế, tuần cuối cùng năm phụng vụ là cơ hội thuận tiện nhất cho chúng ta đi t́m điểm tựa vững chắc cho công lư, ḥa b́nh và ơn cứu độ nơi Thánh Giá. Chính nhờ Thánh Giá, Chúa Giêsu trở thành “ḥa b́nh của chúng ta.” (Ep 2:14) Người đă phá vỡ bức tường thù hận ngăn cách dân chúng và ḥa giải họ với Thiên Chúa (x. Ep 2:14-16). Như vậy, Người đă hóa giải mọi đối kháng và công chính hóa nhân loại theo đúng chương tŕnh của Thiên Chúa. “Lời hứa ḥa b́nh trong suốt Cựu ước đă thực hiện trọn vẹn nơi chính con người Chúa Giêsu. Thực vậy, ḥa b́nh là phẩm tính tuyệt hảo của thời Thiên Sai, gồm mọi hiệu quả tốt đẹp khác của ơn cứu độ. Trong tiếng Do thái, nguyên nghĩa  chữ ‘shalom’  là ‘sự hoàn thành. (x. Is 9:5 tt; Mk 5:1-4) Vương quốc Thiên Sai chính xác là vương quốc ḥa b́nh (x. G 25:2; Tv 29:11; 37:11; 72:3, 7; 85:9, 1; 119:165; 125:5; 128:6; 147:14; Dc 8:10; Is 26:3,12; 32:17 tt.; 52:7; 54:10; 57:19; 60:17; 66:12; Hg 2:9; Dc 9:10; v.v.).” (5)

Như thế, Thánh giá đă có một chiều kích vũ trụ, bao trùm toàn thể nhân loại. Hơn lúc nào, con người cần sống chung ḥa b́nh. Nhưng nếu không học nơi Thánh giá, họ không biết cách tha thứ, yêu thương và sống công chính. Bởi thế, chỉ Thánh Giá mới dạy chúng ta bài học sâu xa về ḥa b́nh.

“Ḥa b́nh là một giá trị và một bổn phận chung của mọi người. Nền tảng của nó thuộc lănh vực lư trí và luân lư của xă hội, bắt nguồn từ chính Thiên Chúa, ‘cội nguồn đầu tiên của vạn vật, chân lư cốt tử và là sự thiện tuyệt đối.’ Ḥa b́nh không phải chỉ là vắng bóng chiến tranh, cũng không chỉ là duy tŕ thế cân bằng lực lượng giữa những bên đối nghịch. Hơn nữa, muốn ḥa b́nh, phải hiểu đúng về nhân vị và cần thiết lập trật tự dựa trên công lư và t́nh yêu. Ḥa b́nh bị đe dọa khi con người không có tất cả những ǵ xứng với nhân vị của họ, khi phẩm giá họ không được tôn trọng và khi đời sống dân sự không hướng đến thiện ích chung. Muốn xây dựng một xă hội ḥa b́nh và phát triển toàn thể cá nhân, các dân tộc, và các quốc gia, phải bảo vệ và cổ vơ nhân quyền.” (6)

Khi bị treo trên Thánh Giá, Chúa Giêsu đă cho thấy tất cả giá trị lớn lao của ḥa b́nh đều có nguồn gốc sâu xa nơi Thiên Chúa. Đồng thời, chính Chúa đă trả lại cho con người tất cả giá trị quư báu nhất là nhân phẩm. Chính Chúa đă làm cho con người đáng được Thiên Chúa tôn trọng. Quả thế, công lư và t́nh yêu đă trở lại với con người. Nhờ được công chính hóa, con người c̣n lên tới một địa vị cao hơn nhân phẩm. Con người trở thành con Thiên Chúa trong một gia đ́nh có Chúa Giêsu “là trưởng tử,” (Cl 1:18) một Hội thánh có Chúa là đầu (x. Cl 1:18).

T̀NH YÊU BẤT BẠO ĐỘNG

Khi Vua Công Chính lên ngôi, con người t́m lại được tất cả những ǵ đă mất. Không những nhân phẩm được phục hồi, con người c̣n được sống và sống dồi dào trong t́nh yêu và ân sủng Thiên Chúa. Đúng như Chúa nói : “Một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, tôi sẽ kéo mọi người lên với tôi.” (Ga 12:32) Chúa kéo mọi người lên không phải bằng bạo lực, nhưng bằng t́nh yêu tha thứ, bất bạo động và công chính hóa. Chính người trộm lành đă làm chứng : “Chúng ta chịu như thế này là đích đáng, v́ xứng với việc đă làm. Chứ ông này đâu có làm điều ǵ trái!” (Lc 23:41) Hành động bạo lực đă đưa đến cái chết. T́nh yêu bất bạo động đă được nêu cao như một bài học nhân ái và công chính. “Chúa đă dạy các môn đệ bản chất bất bạo động của t́nh yêu có tính thánh thiêng và sức mạnh cứu độ.” (7) Quả thực, bản chất bất bạo động lộ rơ trong lời cuối của Chúa : "Lạy Cha, xin tha cho họ, v́ họ không biết việc họ làm."(Lc 23:34) Việc họ làm đầy bạo động, nhưng đă phải đầu hàng trước t́nh yêu bất bạo động của Chúa. Tất cả sức mạnh cứu độ nằm ở chỗ đó.

Thiên Chúa là một Thiên Chúa t́nh yêu bất bạo động. Đạo lư Thiên sai là Con đường t́nh yêu bất bạo động. Kitô hữu là một người có t́nh yêu bất bạo động. Giáo hội phải là Cộng đồng mới với t́nh yêu bất bạo động. Đường hướng bất bạo động trọn vẹn của Tin Mừng kêu gọi chúng ta thay đổi cách tư tưởng, nói năng, hành động và lối sống t́nh cảm nữa.

“Nhiệt lực cần cho việc điều hành các nước trên thế giới là bạo động. Đó là lư do tại sao Chúa Giêsu không chấp thuận cơn cám dỗ trong sa mạc khi ma quỷ dâng Chúa quyền thống trị các nước trên thế giới. Đó là lư do tại sao nhà nước không phải là đối tượng cứu độ trong Tin Mừng. Quyền lực có khả năng biến đổi. Chúa Giêsu thi hành nhiều thứ quyền lực khác. Quyền chữa lành, quyền tha tội, quyền yêu kẻ thù và quyền thương xót là tất cả mọi h́nh thức quyền lực và tất cả đă làm thay đổi hạnh phúc con người đời này cũng như đời sau. Thực vậy, thánh Phaolô gọi Chúa Giêsu và Thánh giá Chúa là ‘sức mạnh và sự khôn ngoan của Thiên Chúa’(1 C 1:24). Tuy nhiên, Chúa Giêsu không chú tâm tới quyền lực Satan trao tặng, v́ quyền hành đó là bạo lực giết người. Chúa Giêsu không chấp nhận trở thành vua dân Do thái hay thủ tướng của một cơ chế chính trị.” (8)

Trong khi đó, để bảo vệ an ninh và hạnh phúc cho một số nhỏ, nhiều nhà nước trên thế giới đang chà đạp nhân phẩm. Mạng sống con người không c̣n được tôn trọng. Các quyền căn bản nhất cũng bị tước đoạt. Người ta dùng mọi h́nh thức khủng bố và bạo động để đàn áp con người. Xă hội sẽ đi về đâu khi tràn ngập những h́nh thức bạo động như thế?!

Nhạc sĩ Tuấn Khanh đau đớn nh́n vào thực trạng xă hội Việt Nam hôm nay: “Rồi mai đây, chúng ta sẽ làm một tấm bia tưởng niệm cho ḷng nhân ái của con người, ḷng kính trọng cho nền giáo dục. Tấm bia có thể sẽ được dựng ở quảng trường thành phố, khắc ghi với ḍng chữ “ở đất nước này, nơi đây, đă từng có một giai đoạn, con người đối xử với nhau như dă thú. Công an đă nhét súng vào họng thường dân để tra khảo. Thầy cô đă giao học tṛ ḿnh cho những người có vũ trang đánh đập. Người cùng màu da đă nhục h́nh trẻ con 10 năm. Thế hệ trẻ đă hận thù nhà trường, căm hận xă hội và cười chê, phỉ nhổ vào nền đạo đức giáo khoa... và tất cả những điều đó, đều đă bị lăng quên trong sự vô và cố t́nh của của nhiều tầng lớp con người, kể cả quan chức có trách nhiệm.

Những điều dị thường đó, xảy ra hàng ngày, khiến những giọt nước mắt khóc thương cho bé trai 13 tuổi tự tử v́ danh dự 47,000 đồng đă rơi ít đi, niềm vui cho bé gái bị nhà trường tra khảo đến phát điên v́ 47,800 đồng oan, nay đă nói lại được cũng lặng lẽ hơn. Xă hội đă chai ĺ, con người đă làm quen với những điều bất khả mà nay quá thường nhật”. (9)

Đàng khác, dưới sức ép của quyền lực nào, các tôn giáo phải chịu thiệt tḥi về mọi mặt như hiện nay ? Điển h́nh, “Ḥa thượng Quảng Độ nói trước tập thể Dân oan khiếu kiện tại Văn pḥng 2 Quốc hội ở Sài G̣n ngày 17-7-2007: “Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất cũng là nạn nhân của chế độ như đồng bào. Giáo hội chúng tôi cũng bị cướp đoạt tất cả mọi cơ sở, từ giáo dục, từ thiện cho đến chùa viện….. Giáo hội chúng tôi cũng đă từng khiếu kiện suốt ba mươi năm qua. Cho đến nay đă có cả ngh́n bức văn thư khiếu kiện, mà họ không hề phản hồi một văn thư nào, không giải quyết ǵ cả. Họ coi dân như cỏ rác”. Riêng Công giáo, th́ Nhà nước vẫn tiếp tục cướp 102/107 ha của đan viện Thiên An, Huế, cướp 17/23.5 ha của linh địa La Vang, Quảng Trị cùng hàng ngàn cơ sở (tu viện, trường học, bệnh viện, nhà trẻ, viện mồ côi…)” (10) Đó là những thiệt hại vật chất. Nhưng thiệt hại đó làm sao so sánh với những thiệt hại về tinh thần ?! Thực vậy, “Các tôn giáo vẫn không có được báo chí, nhà xuất bản, đài phát thanh, đài truyền h́nh của riêng ḿnh.” (11)

Đường lối khủng bố và bạo lực sẽ đưa xă hội Việt Nam về đâu ?

Tự bản chất tôn giáo bất bạo động. Tôn giáo như nước. Ai có thể coi thường sức mạnh của nước ? Hăy nh́n gương Miến Điện, Ba lan để học lấy bài học về sức mạnh của thế lực bất bạo động. “Nhu thắng cương. Nhược thắng cường.” Đông Tây Kim Cổ thời nào cũng thế thôi !

Tóm lại, chỉ có con đường bất bạo động của Vua Công Chính mới dẫn con người đến công lư, ḥa b́nh và tiến bộ thực sự. Chúa là nạn nhân của bạo động, nhưng đă vượt thắng bằng chính t́nh yêu bất bạo động của ḿnh.

Lạy Chúa, Chúa đă mạc khải bản chất t́nh yêu bất bạo động như một sức mạnh cứu độ của Thiên Chúa. Xin cho chúng con biết nh́n lên Thánh Giá để học bài học tha thứ và thấy tất cả vinh quang của Vua Công Chính trong công cuộc cứu độ nhân loại. Amen.


----------

 

1. http://www.vietcatholic.net/News/Html/47319.htm

2. Nguyễn Văn Thuận, “Kinh Nghiệm về Quyền Lực Giải Thoát của Thiên Chúa,” Diễn Văn tại Hội Nghị về Giáo Dục Tôn Giáo tại Los Angeles, trước khi người qua đời năm 2002.

3. Gioan Phaolô II, Thông Điệp Ngày Ḥa B́nh Thế Giới 2002 http://www.vatican.va/holy_father/john_paul_ii/messages/peace/documents/hf_jp-   ii_mes_20011211_xxxv-world-day-for-peace_en.html

4. ibid.

5. Toát Yếu Giáo Lư Giáo Hội về Xă hội, 491.

6. ibid., 494.

7. McCarthy, E. C., http://centerforchristiannonviolence.org/downloads/WEB_2TeachWJT_04a.pdf

8. ibid.

9. http://www.nguoi-viet.com/absolutenm/anmviewer.asp?a=69514

10. Phan Văn Lợi, http://tiengnoigiaodan.net/anews/0711_060.html

11. ibid.