HOME

 
 

Lời Dẫn Bộ Sách "VỀ NGUỒN"

Chương 1: Khung cảnh tôn giáo và xã hội thời Đức Giêsu

Chương 2: Nguồn sử liệu về cuộc đời Chúa Giêsu

Chương 3: Sứ vụ của Đức Giêsu

Chương 4: Cuộc tử nạn của Đức Giêsu

Chương 5: Cuộc Phục Sinh
 


LỜI NÓI ÐẦU

Về Nguồn (hay "Trở về nguồn") là một khẩu hiệu mà công đồng Vaticanô II đã nêu lên để cổ võ cuộc canh tân Hội thánh, từ thần học cho tới phụng vụ cũng như các định chế giáo luật. Tuy nhiên, chúng tôi sử dụng từ ngữ "Về nguồn" không phải vì có tham vọng thúc đẩy cuộc canh tân Hội thánh, nhưng với chủ ý khác.

Nhân dịp chuẩn bị mừng biến cố 2000 năm bắt đầu kỷ nguyên Kitô giáo, chúng ta hãy đi lùi về nguồn gốc để theo dõi việc hình thành và những chặng đường tiến triển không những của các định chế trong Hội thánh mà còn của các học thuyết, nghi thức, luân lý Kitô giáo nữa. Dĩ nhiên chúng ta phải bắt đầu từ ngọn nguồn là đức Giêsu Kitô. Chúng ta thử nghiên cứu thân thế hoạt động của Người trong những năm sinh sống tại Palestina, dựa theo những tài liệu lịch sử mà chúng ta biết được. Kế đó chúng ta sẽ xem các môn đồ của Người đã hiểu và giải thích thế nào về bản thân và sự nghiệp của Người. Ðó là khởi điểm của sự phát triển Hội thánh, cộng đồng các tín hữu của đức Kitô.

Người ta thường phân chia lịch sử Hội thánh ra làm ba giai đoạn chính: thời giáo phụ, thời trung cổ, thời cận đại. Chúng tôi chỉ muốn nhấn mạnh cách riêng đến giai đoạn đầu, giai đoạn khai sinh Kitô giáo cũng như giai đoạn hình thành các chân lý căn bản của đức tin, các bí tích và đinh chế của Hội thánh. Các thánh Tông đồ và các giáo phụ đã cố gắng tìm cách diễn tả kho tàng mặc khải qua những phạm trù của các nền văn hóa đa dạng đương thời, và trở thành mẫu mực cho chúng ta ngày nay trong công cuộc cố gắng đưa Phúc âm vào các nền văn hóa của các dân tộc. Chúng ta hãy đi lùi về những thế kỷ đầu tiên của Kitô giáo, để xem các thánh Tông đồ đã tiếp xúc như thế nào với các tôn giáo, các tư tưởng triết học, các nền văn hóa đương thời: một đàng các ngài đã thu nhập những tinh hoa của chúng để diễn tả đức tin và đời sống Kitô giáo; đàng khác các ngài cũng đã vất vả thanh lọc những yếu tố làm lu mờ đức tin tinh tuyền, điển hình nơi các lạc giáo. Như chúng ta sẽ thấy, nhiều lần điều mà ngày nay chúng ta gọi là "lạc giáo" (bè rối) đã bắt nguồn không phải từ ác ý của những kẻ tà tâm muốn gieo cỏ lùng trong Hội thánh cho bằng từ một cố gắng giải thích chân lý mặc khải theo đường lối hợp với não trạng của con người thời đại. Thế nhưng tuy dù mặc khải Kitô giáo mang theo rất nhiều điều đáp ứng được với những khát vọng của con người, nhưng đồng thời nó cũng chứa đựng nhiều điều mà thánh Phaolô đã mệnh danh là "sự điên rồ của thập giá" (1Cr 1,18), hoàn toàn trái ngược với thị hiếu con người! Ðể bảo vệ căn tính của Phúc âm, các thánh Tông đồ và các giáo phụ không những đã phải sử dụng bút chiến nhưng còn sẵn sàng dùng mạng sống của mình để làm chứng tá.

Trong tập mở đầu, chúng ta sẽ tìm hiểu thân thế và sự nghiệp của đức Giêsu. Trước tiên, chúng tôi sẽ trình bày sơ lược bối cảnh lịch sử tôn giáo và chính trị của Palestina vào lúc Chúa ra đời. Kế đó, chúng ta sẽ xét tới những cuộc tranh luận trong thế kỷ XX chung quanh giá trị của các tư liệu nói về lịch sử của đức Giêsu. Tiếp theo, chúng ta thử ôn lại những nét nổi bật trong các lời giảng và việc làm của Người, cho tới hồi kết thúc với cuộc Tử nạn và Phục sinh. Ðó là khởi điểm của Kitô giáo.

Trong những tập kế tiếp, tương ứng với 5 giai đoạn từ thời các thánh Tông đồ cho tới hết thời các giáo phụ, chúng ta sẽ theo dõi những chặng phát triển của Kitô giáo dưới 6 khía cạnh sau đây:

1. Bối cảnh xã hội của mỗi giai đoạn: khung cảnh tôn giáo, tư tưởng, chính trị tại nơi các thánh Tông đồ và các giáo phụ rao giảng Phúc âm.

2. Những nguồn tư liệu cung cấp cho ta những dữ kiện về sinh hoạt của Hội thánh. Dưới khía cạnh này, chúng ta sẽ có cơ hội học hỏi về văn chương Kitô giáo, đặc biệt là tác phẩm của các giáo phụ.

3. Việc tổ chức đối nội và đối ngoại của Hội thánh. Nói khác đi, dưới khía cạnh này chúng ta sẽ nghiên cứu lịch sử truyền giáo và lịch sử các cơ cấu của Hội thánh.

4. Các tín điều, nghĩa là việc phát biểu chân lý mặc khải bằng những khái niệm và phạm trù tư tưởng lấy từ văn hóa của thời đại.

5. Ðời sống cầu nguyện và phụng tự, nhờ đó chúng ta có thể học được lịch sử các linh đạo và lịch sử phụng vụ của Kitô giáo.

6. Ðời sống luân lý và xã hội của các Kitô hữu.

Tuy từ thời các thánh Tông đồ cho đến khi chấm dứt thời các giáo phụ có đến 8 thế kỷ, nhưng không phải mọi thế kỷ đều có tầm quan trọng ngang nhau. Ðó là lý do vì sao chỉ nói tới 5 giai đoạn thay vì 8.

+ Giai đoạn 1 trùng với thời các Tông đồ, bao trùm hết thế kỷ thứ nhất.

+ Giai đoạn 2 là thời của các tông phụ vào thế kỷ thứ hai.

+ Giai đoạn 3 phần nào trùng với thế kỷ thứ ba, thời buổi bình minh của văn chương và triết học Kitô giáo.

+ Giai đoạn 4 kéo dài từ công đồng Nixêa (325) cho tới công đồng Cônstantinôpôli (381), hai công đồng định tín về thiên tính của đức Kitô và của Thánh thần. Ðây là hoàng kim của thời giáo phụ, với những khuôn mặt như: Atanaxiô (+373), Baxiliô (+379), Grêgôriô Nazianzênô (+390), Gioan kim khẩu (+407), bốn vị đại tiến sĩ của Ðông phương.

+ Giai đoạn 5 là thời phát triển đạo lý của hai công đồng vừa nói, đặc biệt là hai công đồng Êphêsô (431) và Calxêđônia (451), với các giáo phụ Xirillô Alêxanđria (+444) bên Ðông, và bốn vị đại tiến sĩ bên Tây: Ambrôxio (+397) , Hiêrônimô (+419), Augustinô (+430), Grêgôriô cả (+604) . Nhưng giai đoạn này cũng đánh dấu một cuộc biến chuyển do hậu qủa của những thay đổi chính trị của đế quốc Rôma, tiếp theo cuộc xâm lăng của dân man di. Nền văn minh Hy-la cổ truyền mất địa vị độc tôn. Hội thánh tiếp xúc với những phong tục văn minh mới, đưa tới sự thay đổi bộ mặt cơ chế vào thời Trung cổ. Ðồng thời, miền Trung đông và Bắc Phi bị các lực lượng Hồi giáo chiếm đóng, khiến cho những cộng đoàn phồn thịnh của những thế kỷ đầu tiên dần dần bị xóa tên trên bản đồ. Tuy nhiên, chúng ta chỉ dừng lại ở thời các giáo phụ mà thôi. Theo các học giả, thời các giáo phụ chấm dứt với thánh Isiđôrô (+636) bên Tây phương và Gioan Ðamasênô bên Ðông phương (675-749). Cũng nên biết là các Hội thánh chính thống chỉ nhìn nhận 7 công đồng đầu tiên (từ Nixêa I năm 325 đến Nixêa II năm 787) có tính cách công giáo hoàn vũ, còn các công đồng sau đó chỉ có tính cách riêng tư của các giáo hội tây phương. Dù có nói thế nào đi nữa về quan điểm này, ít là chúng ta chấp nhận có một căn bản chung khi bàn tới chuyện tái lập sự hiệp nhất giữa các giáo hội Ðông và Tây phương.