HOME

  
 

 

NhẬp đỀ

PhẦn thỨ nhẤt: BỐI CẢNH

Chương I.- Bối cảnh chính trị

Chương II.- Bối cảnh văn hóa tôn giáo

PHẦN THỨ HAI: VĂN CHƯƠNG KITÔ GIÁO

Chương III.- Các giáo phụ thế kỷ IV: từ Nixêa tới Constantinôpolis

Chương IV.- Các giáo phụ thế kỷ V: từ Constantinôpôlis tới Calxêđônia

Chương V.- Các giáo phụ sau công đồng Calxêđônia (451-750)

PHẦN THỨ BA: TỔ chỨc HỘi thánh

Chương VI.- Sự bành trướng và phát triển của Kitô giáo

Chương VII.- Các hàng ngũ trong Hội thánh

Chương VIII.- Cơ cấu phẩm trật

Chương IX.- Các công đồng ḥan vũ

Chương X.- Các lạc giáo và ly giáo

PhẦn THỨ BỐN : ĐẠo lư và đỜi sỐng Kitô giáo

Chương XI.- Thần học tín lư

Chương XII.- Đời sống phụng vụ và bí tích

Chương XIII.- Huấn giáo về luân lư

Chương XIV.- Văn chương tu đức và thần bí

KẾt luẬn

 

 

 
  

 

Phụ lục II.- Danh sách các giáo phụ được nhắc đến trong Bài đọc Kinh Sách

Phụ lục III.- Các giáo phụ “theo nghĩa rộng” được nhắc đến trong Bài đọc Kinh Sách
 


NhẬp đỀ


          Trong tập này, chúng ta theo dơi sự phát triển của Kitô giáo trong giai đọan hai của thời các giáo phụ. Khởi điểm của thời kỳ này tương đối dễ xác định: có người tính từ năm 313, khi Kitô giáo được hưởng quyền tự do hành đạo; có người th́ muốn bắt đầu với công đồng Nixêa năm 325. Sự khác biệt chỉ trên dưới 10 năm. Việc ấn định tận điểm gặp nhiều khó khăn hơn.

- Có tác giả đă muốn chấm dứt vào năm 451 với công đồng Calxêđônia. Như vậy giai đọan hai được đánh dấu bởi bốn đại công đồng (Nixêa, Constantinôpôlis, Êphêsô, Calxêđônia), ấn định những chân lư ṇng cốt của Kitô giáo. Đây cũng là thời đại hoàng kim của các giáo phụ, đánh dấu với bốn đại tiến sĩ bên Đông phương (Athanasiô, Basiliô, Grêgôriô Nazianzô, Gioan kim khẩu), cùng với các thánh Ambrôsiô, Hiêrônimô, Augustinô bên Tây phương[1].

- Có người lại muốn kéo dài cho đến hết đời thời đức Grêgôriô Cả (+604). Như vậy, giai đọan này bao gồm bảy công đồng được gọi là “chính thống”: ngoài bốn công đồng vừa kể trên, c̣n phải thêm ba công đồng: Constantinôpôlis II (553), Constantinôpôlis III (680-681), Nixêa II (787). Đây là giai đọan chuyển tiếp sang thời Trung cổ, được đánh dấu với việc chuyển tiếp quyền bính của Đế quốc Rôma sang tay những dân vốn bị coi là man di. Về phía lịch sử các giáo phụ, các học giả đă nhận thấy sự suy thóai kể từ khi chấm dứt công đồng Calxêđônia. Thời các giáo phụ được chấm dứt với thánh Isiđôrô Sevilla bên Tây phương (+636) và thánh Gioan Đamascô bên Đông phương (+740).

Tuy dù có sự khác biệt về đích điểm, nhưng tất cả các sử gia đều đồng ư về một khúc quặt mới của lịch sử Kitô giáo xảy ra vào khởi điểm của giai đọan này. Thực vậy, trong giai đọan trước đây, Kitô giáo phải đương đầu với những cuộc bách hại, nhưng với sắc dụ Milanô (313) Kitô giáo được hưởng quyền tự do hành đạo, và trở thành quốc giáo vào năm 380. Nói khác đi, vào đầu thế kỷ IV, Kitô giáo bị đứng ở ngoài ṿng pháp luật; nhưng đến cuối thế kỷ, th́ Kitô giáo không những được pháp luật che chở mà c̣n trở thành quy chuẩn của pháp luật. Tư thế này đă mang lại nhiều điều thuận lợi nhưng cũng kèm theo khá nhiều bất lợi. Trong số những điều thuận lợi ta có thể kể:

- T́nh trạng yên ổn, nhờ đó Hội thánh có thể thực hiện sứ mạng rao giảng Tin mừng.

- Các giáo sĩ được nh́n nhận một thể chế riêng biệt (được miễn khỏi phải thi hành nhiều nghĩa vụ công dân), nhờ đó họ có thể dành thời giờ vào tác vụ.

- Các giám mục được dành mọi dễ dàng để hành đạo, cách riêng để hội họp đại công đồng.

Nhưng đồng thời, chúng ta không nên bỏ qua những điều bất lợi:

- Sự can thiệp của chính quyền vào nội bộ của Hội thánh, không những qua việc tiến cử những ứng viên được cảm t́nh vào các ghế lănh đạo, mà c̣n qua việc ép buộc các giám mục phải tuân theo một đạo lư mà chính quyền cho là chính thống. Điều này xảy ra đặc biệt trong vụ tranh luận với nhóm lạc giáo Đônatô bên Phi châu và lạc giáo Ariô sau công đồng Nixêa.

- Các giám mục được quyền tổ chức bộ máy cai quản nội bộ, chẳng hạn như được phân xử các vụ kiện tụng, với bản án được chính quyền nh́n nhận giá trị pháp lư. Hậu quả đáng tiếc là các giám mục bận rộn với công tác cai quản nhiều hơn là công tác truyền giáo.

- Thái độ quỵ lụy của vài giáo sĩ, sẵn sàng chiều theo ư muốn của nhà vua hơn là công ích của Hội thánh. Các tác vụ trong Hội thánh được nh́n dưới lăng kính của địa vị, chức quyền, tài sản hơn là công tác phục vụ.

- Việc dời thủ đô Đế quốc từ Rôma sang Constantinôpôlis (Rôma mới) đă tăng thêm quyền hành của giám mục tại đây, đưa đến sự rạn nứt trong Hội thánh[2].

- Việc trở lại đạo ào ạt đưa đến hậu quả là con số tín hữu gia tăng về lượng, nhưng sự trở lại chỉ diễn ra trên danh nghĩa, chứ không bén rễ sâu trong tâm hồn. Nói cách khác, nhiều người chỉ mang tên là Kitô hữu, nhưng năo trạng vẫn là ngoại giáo. Mặt khác, trước đây, trong thời kỳ bắt đạo, các tín hữu ư thức ḿnh là công dân Nước Trời hơn là công dân trần gian; nhưng nay họ cảm thấy thân thiện với trần gian hơn là ngóng trông quê trời. Có những tín hữu đă nhận ra điều đó và đă phản ứng lại. Nhiều sử gia cho rằng đây là nguồn gốc của nếp sống đan tu trong Hội thánh. Các đan sĩ đầu tiên không chịu bắt tay với chế độ mới, với nhiều tiện nghi dễ dăi dành cho Hội thánh. Họ muốn nuôi dưỡng chí khí can trường của các anh hùng tử đạo. V́ thế họ rút lên nơi cô tịch thanh vắng, vừa biểu lộ sự siêu thóat khỏi những quyến rũ vật chất, vừa rèn luyện ư chí phấn đấu khi phải đương đầu mỗi ngày với thiên nhiên thú rừng.

Chúng tôi sẽ trở lại với vấn đề này khi bàn đến bối cảnh chính trị (Chương Một). Dù nói thế nào đi nữa, tầm quan trọng của giai đọan mà chúng ta đang nghiên cứu ở chỗ nó trùng hợp với bốn đại công đồng đă xác định những chân lư đức tin căn bản của Kitô giáo: chân lư về một Chúa Ba ngôi (qua việc tuyên xưng thiên tính của đức Kitô tại công đồng Nixêa và thiên tính của Thánh thần tại công đồng Constantinôpôlis), chân lư về mầu nhiệm Nhập thể: sự kết hợp giữa thiên tính và nhân tính trong một ngôi vị duy nhất của đức Kitô (công đồng Êphêsô và Calxêđônia). Lịch sử của Hội thánh sẽ c̣n chứng kiến nhiều công đồng khác nữa (tính tổng cộng là 21 cho đến công đồng Vaticano II), tuy nhiên chúng không thể nào so sánh với bốn công đồng đầu tiên. Thánh Grêgôriô Cả ví chúng với 4 sách Phúc âm; thánh Isiđôrô ví với 4 nhánh sông trong vườn Địa đàng.

Việc xuất hiện của các công đồng hoàn vũ cho thấy các cơ cấu phẩm trật Hội thánh được kiện toàn. Cũng có thể nói cách tương tự như vậy đối với việc củng cố các ṭa thượng phụ : đó là những gạch nối giữa các Giáo hội địa phương thuộc cùng một truyền thống văn hóa và phụng vụ.

Dựa theo một lược đồ giống như trong tập Ba, chúng tôi sẽ lần lượt tŕnh bày những điểm sau đây.

1. Bối cảnh chính trị xă hội, với những khúc quặt quan trọng có ảnh hưởng tới mối liên lạc giữa Kitô giáo với Đế quốc Rôma. Nên biết là từ thế kỷ V, bộ mặt Đế quốc Rôma đă thay đổi do sự xâm lăng của quân man di. Vào cuối thời các giáo phụ, vị trí của Giáo hội trước chinh quyền hoàn toàn khác biệt ở mạn Tây và mạn Đông của Đế quốc, dần dần đưa đến sự phân chia giữa Giáo hội Tây phương và Giáo hội Đông phương.

2. Bối cảnh tôn giáo văn hóa. Điểm đặc sắc của giai đọan này là sự thành h́nh của văn hóa Kitô giáo, biểu lộ qua các trường phái thần học. Cần phải thêm rằng các trường phái thần học cũng trở thành nguồn gốc của các lạc giáo. Dĩ nhiên, như đă nói trước đây, sự phân biệt giữa chính giáo và lạc giáo không đơn giản như trắng với đen; lắm lần các lạc giáo bắt nguồn từ khó khăn dung hợp chân lư đức tin với yêu sách của suy tư triết học mà thôi.

3. Các nguồn sử liệu, cách riêng các tác phẩm văn chương giáo phụ, đạt tới thời hoàng kim ở hai thế kỷ IV-V. V́ muốn tŕnh bày một cái nh́n khái quát về các giáo phụ, chúng tôi sẽ kéo dài thêm cho tới các văn hào thế kỷ thứ VI-VIII, kết thúc với vị tiến sĩ Hội thánh Gioan Đamascô bên Đông; Grêgôriô Cả và Isiđôrô Sevilla bên Tây.

4. Sự bành trướng của Kitô giáo trong lănh thổ Đế quốc Rôma cũng như ra ngoài biên giới Đế quốc. Cơ cấu tổ chức nội bộ Giáo hội, với sự củng cố định chế của các công đồng hoàn vũ, cũng như các ṭa thượng phụ. Ngoài ra cũng cần phải ghi nhận sự thành h́nh của nếp sống đan tu dưới nhiều dạng thức.

5. Sau khi đă duyệt qua các nguồn tài liệu về văn học và sinh họat của Hội thánh, chúng ta sẽ theo dơi lịch sử của bốn đại công đồng, để rồi từ đó, t́m hiểu đạo lư về Thiên Chúa Ba ngôi, về đức Kitô, về đức Maria, về Giáo hội.

6. Tiếp theo các đề tài đạo lư là chương bàn đến đời sống cầu nguyện và phụng tự của Hội thánh. Ngoài việc kiện toàn nghi thức cử hành các bí tích và niên lịch phụng vụ, giai đọan này c̣n được đánh dấu bởi sự thành h́nh các gia đ́nh phụng vụ quen gọi là các “nghi điển”, dựa theo các ṭa thượng phụ.

7. Hai chương cuối cùng được dành cho đời sống luân lư của các Kitô hữu. Ngoài những chủ đề cổ điển về luân lư bản thân, gia đ́nh, lao động, cần phải thêm một vấn đề được đặt ra do t́nh thế mới: đó là mối tương quan giữa giáo quyền với chính quyền. Mặt khác, sự xuất hiện của đời đan tu đă tạo ra một nền văn chương tu đức dẫn đến việc thần hiệp, mục tiêu của tôn giáo.

 

--------------

[1] Vào thời cổ, tất cả các giáo phụ đều được coi là “tiến sĩ” (doctor: thày dạy) của Giáo hội. Từ thế kỷ XIII, từ ngữ “tiến sĩ Hội thánh” mang một ư nghĩa chuyên môn khi đức Bonifaxiô VIII quyết định cử hành các thánh Grêgôriô Cả, Agustinô, Ambrôsiô, Hiêrônimô như là “tiến sĩ Hội thánh” trong lịch phụng vụ (sắc lệnh Sacrosanctae Romanae Ecclesiae, ngày 3/3/1298). Trong cuộc cải tổ phụng vụ sau công đồng Trentô (1568), Đức Piô V truyền ghi thêm 4 tiến sĩ Đông phương (Basiliô, Grêgôriô Nazianzô, Gioan Kim khẩu, Atanasiô). Tuy nhiên, danh sách các vị tiến sĩ Hội thánh không nhất thiết trùng hợp với thời các giáo phụ. Hiện nay có 17 giáo phụ được tặng danh hiệu tiến sĩ Hội thánh trên tổng số 33 vị.

[2] V́ lư do chiến thuật và chính trị, Ḥang đế Constantinô đă dời kinh đô từ Rôma sang miền Đông, lúc đầu đặt ở Nicôđêmia, sau đó sang Byzantium, được đổi tên là Constantinôpôlis (thành phố Constantinô), khánh thành năm 330. Việc di chuyển thủ đô hành chánh mang theo những hệ quả không nhỏ đối với Hội thánh. Ḥang đế lưu tâm đến các giáo đ̣an bên Đông phương hơn là bên Tây phương. (Các nghị phụ tham dự các công đồng đa số thuộc miền Đông). Giám mục Constantinôpôlis (Rôma mới) đ̣i được đối xử ngang hàng với giám mục Rôma, trên cả các ṭa kỳ cựu tại Giêrusalem, Alêxanđria. Tuy dù những sự kiện này xảy ra sau khi ông Constantinô qua đời, nhưng nó bắt nguồn từ việc ông quyết định thành lập một kinh đô mới cho Đế quốc.